Please login or register.

Login with username, password and session length

Author Topic: Hợp chất hữu cơ  (Read 84519 times)

31 Tháng Bảy, 2006, 09:52:56 PM
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 75
  • Điểm bài viết: 1
Một số bài viết có ích trong topic.
Phân loại chung về danh pháp hợp chất hữu cơ.
Quy định về sử dụng các chỉ số vị trí và các loại dấu trong danh pháp IUPAC
Cách đọc tên các hợp chất dị vòng.
Danh pháp cation lạ mắt ít gặp.
Cách gọi tên các hệ thống vòng xiclo dung hợp.
Danh pháp hợp chất theo IUPAC (1979 và 1993).
Khái niệm về ancaloit - Sơ lược về cây thuốc lá.
Sơ lược về cây coca.
Sơ lược về cây cà phê.
Sơ lược về cafein.
Giới thiệu sơ lược về cây độc sâm.
Phản ứng Cộng vào Liên kết Đôi C=C theo Quy tắc Cộng Electrophin- Ae
Phản ứng hidroxyl hóa anken.
Một số vấn đề về cacben.
Cấu trúc của gốc methyl tự do.
Ankin.
Ancol - Phenol - Ete. Andehit - Axit cacboxylic - Este.
Cacbohydrat. Amin - Aminoaxit - Peptit - Protein - Polime.
Một vài phản ứng liên quan đến axit cacboxylic.
Giới thiệu về các hợp chất dị vòng ba cạnh.
Giới thiệu các dị vòng 5 cạnh.
Một số các phản ứng của dị vòng thơm.
Giới thiệu các dị vòng 6 cạnh.
Một số hợp chất hữu cơ có cấu trúc kì lạ (3 bài viết).
________________________________________________________________________________________________________________________________
 :x :x :x :x
  * MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÂN LOẠI DANH PHÁP HỢP CHẤT HỮU CƠ
*




I)   Phân loại chung về danh pháp hợp chất hữu cơ:

Có thể quy tên của hợp chất hữu cơ về hai loại chính và một loại trung gian.
·   Danh pháp hệ thống: là loại danh pháp trong đó mọi bộ phận cấu thành đều có ý nghĩa hệ thống.

Thí dụ: Hexan ( C6H14) = hexa( tiền tố xuất phát từ tíêng Hy Lạp, có nghĩa là sáu)+ an( hậu tố chỉ hidrocacbon no)
Hexa+an=hexan ( bỏ bớt một chữ “a” liền nhau)

·   Danh pháp thường:

Danh pháp thường ( thông thường) là loại danh pháp được hình thành dựa theo nguồn gốc tìm ra hoặc theo tính chất bề ngoài ( màu sắc, mùi vị…)hoặc một yếu tố khác không có tính hệ thống..
Thí dụ: Ure ( tiếng Pháp: urée) có nguồn gốc từ urine( tiếng Pháp có nghĩa là nước tiểu) vì ure lần đầu tiên được tách ra từ nước tiểu năm 1778.

·   Danh pháp nửa hệ thống hay danh pháp nửa thông thường:
Loại danh pháp này mang tính chất trung gian của hai loại danh pháp trên, vì nó chỉ có một vài yếu tố hệ thống.

Thí dụ : Stiren ( C6H5=CH2) có nguồn gốc là stirax( tên loại nhựa cây cho stiren ) và chỉ của hậu tố -en nói lên sự có mặt của nối đôi C=C trong hệ thống.

II)   Phân loại danh pháp IUPAC:

Tên của các hợp chất hữu cơ theo IUPAC gồm nhiều loại mà phần nhiều thuộc danh pháp hệ thống, chỉ có một số ít là nửa hệ thống và tên thường.

( các bạn thân, để tránh gây rối, tớ sẽ lược bớt một số loại danh pháp không gặp trong phổ thông)
·   Tên thay thế: là tên thế được tạo nên nhờ thao tác thay thế
Tức là thay một hay nhiều nguyên tử H ở bộ phận chính gọi là hidrua nền( mạch chính, mạch vòng chính…) bằng một hay nhiều nguyên tử hoặc nhóm nguyên tử khác rồi lấy tên của hidrua nền ghép với tên của nguyên tử hoặc nhóm nguyên tử mới thế vào.Tên của nhóm nguyên tử thế vào có thể thêm vào như một tiền tố hay hậu tố tuỳ trường hợp theo những nguyên tắc nhất định.

Thí dụ1:       CH3-CH2-OH
Hidrua nền: etan
Nhóm thế: -OH có tên ở dạng hậu tố : -ol
Tên thay thế: etanol

Thí dụ 2:      Cl-CH2-CHCl-CH3
Hidrua nền: propan
Nhóm thế : -Cl có tên ở dạng tiền tố: Cloro- hoặc clo-
Tên thay thế: 1,2-điclo(ro)propan

Thí dụ 3:       C6H5-NH-CH3
Hidrua nền: anilin
Nhóm thế: -CH3 có tên metyl
Tên thay thế: N-metylanilin

·   Tên loại chức hay là tên gốc -chức-chức hoá học :là  nhóm nguyên tử có hoá trị chưa đảm bảo, gây ra những tính chất đặc trưng riêng cho từng loại chất hữu cơ.
-tên loại chức hay là tên gốc -chức đ ư ợc t ạo n ên b ằng thao t ác c ộng t ên c ủa g óc hay nh óm v ới t ên c ủa ch ức h ữu c ơ.
th í d ụ:
CH3CH2Br: etyl bromua
CH3COCl:  axetyl clorua
CH3CH2COCOCH3: etyl axetat
CH3CH2OH : ancol etylic hay etyl ancol

·   tên thường và tên nửa hệ thống được lưu dùng trong hệ thống tên c ủa IUPAC

Đó là tên của một số hidrocacbon mạch hở, mạch vòng, nhóm ( hay gốc) hidrocacbon, dẫn xuất hidroxi, hợp chất cacbonyl, axit cacboxylic, dị vòng, v.v…Chia làm 3 nh óm:

v    nhóm 1:gồm các tên được dùng khi không có nhóm thế và khi có nhóm thế ở bất kỳ vị trí nào.Thí dụ: etan, axetilen, benzen, phenol, anilin, axit bezoic, v.v…

v   nhóm 2: gồm các tên được dùng khi không có nhóm thể và khi có nhóm thế ở một số vị trí nhất định( thường là ở mạch vòng).thí dụ : toluen, stiren...

v   nhóm 3: gồm các tên chỉ được dùng khi không có nhóm thế.thí dụ: isopentan,neopentan, isopren,glixerol, axit lactic.v.v…

« Last Edit: 13 Tháng Tám, 2009, 08:53:22 PM by Yan_sora »

31 Tháng Bảy, 2006, 09:56:00 PM
Reply #1
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 75
  • Điểm bài viết: 1
(**)Quy định về sử dụng các chỉ số vị trí và các loại dấu trong danh pháp IUPAC


I)   Các chỉ số về vị trí:các chỉ số vị trí cuả các nhóm thế và nhóm chức là những chỉ số Ả Rập ( 1,2,3,…)các chữ cái Hy Lạp( anpha, bêta, gamma…) hoặc chữ cái La tinh( O, N, P…).Nhiều tiếng nước ngoài viết là locant.
-trưóc đây I chưa quy định cụ thể vị trí đặt các locant trong tên gọi hợp chất hữu cơ, nên đã tồn tại nhiều cách viết khác nhau.thí dụ:
CH3CH2CH=CH2 có thể viết là 1-buten hay buten-1 hoặc but-1-en
CH3CH2CH2OH có thể viết là 2-propanol hay propanol-2 hoặc propan-2-ol
-gần đây I đã quy định rõ ràng tất cả các “locant” dù là số hay chữ cái cần được đặt ngay trước bộ phận có liên quan cuả tên gọi hợp chất hữu cơ.Thí dụ:
CH3CH2CH=CH2 gọi là : but-1-en
CH3-CHOH-CH3 gọi là  : propan-2-ol
CH2=C(C2H5)CH=CH2:2-etylbuta-1,3-đien
II)   Dấu phẩy, dấu gạch nối, khoảng trống :
locant, locant
chữ chữ
locant-chữ
chữ-locant

[/size]
« Last Edit: 31 Tháng Bảy, 2006, 10:00:22 PM by chaungoancuaBac »

22 Tháng Tám, 2006, 05:21:29 PM
Reply #2
  • Đại sứ chemvn - Thành viên box Hoá
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 56
  • Điểm bài viết: 4
    • Diễn đàn thế giới hoá học
Cách đọc tên các hợp chất dị vòng:

+Kích thước của vòng được chỉ bằng thân chữ ir, et, ol, in, ep, on, oc, ec tương ứng các vòng 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 cạnh.

+Loại dị tử có mặt được chỉ bằng các tiếp đầu ngữ oxa, thia, aza tương ứng oxi, lưu huỳnh, nitơ. Khi có mặt hai hay nhiều dị tử thì thứ tự đọc và đánh số ưu tên như sau : oxi > lưu huỳnh > nitơ. Ví dụ oxaza, thiaza.

+Ta phân ra hai loại là dị vòng chứa nitơ và dị vòng không chứa nitơ.
Ở dị vòng chứa nitơ:
Chưa no: -irin- , -et , -ol , -in, -epin , -ocin , -onin , -ecin . Lưu ý chưa no ở đây là chứa tối đa nối đôi trong vòng, không tính các nối đôi tụ tập.
No: -iridin , -etidin , -olidin , các dị vòng nitơ no nhiều C hơn ta thêm tiếp đầu ngữ pehidro được gắn với thân chữ và tiếp vĩ ngữ của hợp chất chưa no đầu dãy.
Ở dị vòng mà dị tử khác nitơ: (Đối với mỗi vòng ta xác định một dị tử chính theo thứ tự từ oxi > lưu huỳnh > nitơ )
Chưa no: -iren- , -et , -ol , -in , -epin , -ocin , -onin , -ecin

No: -iran , -etan , -olan , -an , -epan , -ocan , -onan , -ecan.

+Việc đánh số trong vòng bắt đầu từ dị tử và đi quanh vòng theo chiều nào khiến cho các nhóm thế (hay các dị tử khác ) có số vị trí thấp nhất. Khi có hai hay nhiều dị tử khác nhau oxy đánh trước rồi đến lưu huỳnh, nitơ.

+Hợp chất có vòng bị khử một phần được xem là dẫn xuất của hidro và được nêu rõ bằng cách gắn kí hiệu H vào số chỉ vị trí của bảo hòa đối với tên hợp chất.


Phân tích: Do vòng năm cạnh nên thân chữ là ol, ta thấy vòng trên là dẫn xuất dihidro của vòng no( có số nối đôi cực đại ), thân chữ + tiếp vĩ ngữ là ol. Nên tên cơ bản sẽ là 2,3-dihidroazol, ta lược bỏ chữa “o”.

Chúc vui!! :art (

22 Tháng Tám, 2006, 05:22:43 PM
Reply #3
  • Đại sứ chemvn - Thành viên box Hoá
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 56
  • Điểm bài viết: 4
    • Diễn đàn thế giới hoá học
Danh pháp cation lạ mắt ít gặp  ~X(
+A cation derived formally by the addition of one or more hydrons to any position of a neutral parent hydride is described by replacing the final "e" of the parent hydride name, if any, by the suffix "-ium", or by adding the suffix "-ium", "-diium", etc., to the name of the parent hydride.

+Cations formally derived by the removal of one hydride ion,  , from a parent hydride are named using the suffix "-ylium", in the same way as the suffix "-yl". Di- and polycations formally derived by the removal of two or more hydride ions from a parent hydride are named by adding the suffixes "-bis(ylium) ", "-tris(ylium)", etc., to the name of the parent hydride. A cation that can be considered to be formally derived by the loss of an unpaired electron from the corresponding radical may also be named by adding the class name "cation" as a separate word following the name of the radical.



+Cations formally derived by the loss of all the hydroxy groups as hydroxide ions from acid characteristic groups expressed by the suffix are named by replacing an "-ic acid" ending or suffix by "-ylium", or a "-carboxylic acid" suffix by "-carbonylium". Such cations may also be named by adding the class name "cation" as a separate word after the name of the acyl group
 +Prefix names for expressing monovalent monocationic parent cations as substituents with the free valence at the cationic site are formed by changing the "-ium" or "-onium" ending of the parent cation name to "-io" or "-onio", respectively.
 
+Prefixes for expressing substituent structural units containing cationic centres are derived systematically by adding the operational suffixes "-yl", "-ylidene", "-diyl", etc., together with appropriate locants, to the name of the parent cation.
 
+For replacement nomenclature, cationic replacement prefixes corresponding to "-onium" cations are formed, except for bismuth, by replacing the final "a" of the replacement prefix for the corresponding neutral heteroatom by "-onia", for example, "azonia-", "oxonia-", and "thionia-"; the cationic replacement prefix corresponding to bismuthonium is "bismuthonia-". Cationic replacement prefixes corresponding to "-ylium" cations are formed by replacing the final "e" of the name of the corresponding mononuclear parent hydride by "-ylia", for example, "azanylia" and "boranylia".


This writing is derived from IUPAC
« Last Edit: 22 Tháng Tám, 2006, 05:26:02 PM by bluemonster »

22 Tháng Tám, 2006, 05:24:11 PM
Reply #4
  • Đại sứ chemvn - Thành viên box Hoá
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 56
  • Điểm bài viết: 4
    • Diễn đàn thế giới hoá học
Trong bài này BM sẽ giới thiệu với các bạn cách gọi tên các hệ thống vòng xiclo dung hợp. Thật ra đây là bài mở rộng của bài cách đọc tên các vòng kiểu bixiclo mà bạn Bim112 đã giới thiệu trong thread trước. Theo BM, để hiểu hơn về bài này, các bạn nên tham khảo trước bài của Bim112.

Cách đọc:

+Trước tiên ta phải chọn trục cơ sở, trục cơ sở là trục có nhiều vòng đi qua nhất, trục cơ sở không nhất thiết phảI là trục liên kết thực giữa hai C, mà trục cơ sở có thể là trục ảo nối giữa hai C ( khó hiểu quá phải không, tí nữa ví dụ là hiểu ngay thôi)

+Sau khi chọn trục cơ sở, ta tiến hành đọc tên của hệ thống.

Lưu ý :

+Cách đánh số bắt đầu từ C ở trên trục cơ sở ta đã chọn, sau đó đánh số lần lượt từ vòng lớn đến vòng nhỏ tương tự như cách đọc tên bixiclo. Cách đánh số còn phải làm sao cho hai subscript trên số cuối trong ngoặc vuông là nhỏ nhất.

+Khác với bixiclo, ở trixiclo, các số trong tên ngoặc vuông phải nhỏ nhất ( so sánh từng locant ). Ví dụ khi BM chọn hai trục cơ sở khác nhau thì sẽ ra hai tên hệ thống khác nhau: triciclo[2.1.1.0-2,5]hexan và triciclo[2.2.0.0-2,6]hexan thì ta sẽ chọn tên sau, vì khi so sánh từng locant thì tên sau lớn hơn nên ưu tiên hơn.

Ví dụ:

Để đọc tên chất trên, đầu tiên ta sẽ chọn trục cơ sở là trục có màu đỏ như hình dưới:

Với cách chọn trục như trên ta sẽ có ba vòng đi qua, và thứ tự đánh số sẽ như sau:


Và ta sẽ đọc tên như sau: triciclo[2.2.0.0-2,6]hexan ; còn với một cách chọn trục cơ sở khác ta cũng có tên như sau triciclo[2.1.1.0-2,5]hexan ; Những con số subscript trên hệ số cuối có ý nghĩa là hai C nằm chéo với trục cơ sở, mà ba con số trước không diễn ta được hết, còn hệ số thứ tư trong ngoặc vuông chính là số C trên “đường đi’ giữa hai C subscript mà ba con số trước chưa thể hiện. Như đã nói ở trên ta sẽ chọn cách đọc thứ nhất.
Ví dụ 2:

Với hợp chất này ta sẽ chọn trục cơ sở như sau:

Trục cơ sở của hệ này là một trục ảo, và ta sẽ có cách đánh số như sau:


Kinh nghiệm: Đây là những kinh nghiệm mà BM có được sau khi tập đọc triciclo:
+Khi ta có một tên hệ thống [a.b.c.d-e,f], để vẽ ra được hệ thống, ta chỉ cần chú ý đến c, nếu c khác 0 thì trục cơ sở chắc chắn trục ảo, còn nếu c bằng 0 thì trục cơ sở là trục thực.
+Khi chọn trục cơ sở ta chỉ chú ý đến C bậc cao, thường là bậc ba.
Chúc vui!!!!

Chú ý: Trong bài này do không thể đánh subscript của hệ số thứ tư trong ngoặc nên BM dùng kí hiệu gạch ngang "-" để chỉ các subscript.

24 Tháng Tám, 2006, 07:47:44 AM
Reply #5
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 1524
  • Điểm bài viết: 34

04 Tháng Chín, 2006, 07:49:47 PM
Reply #6
  • Đại sứ chemvn - Thành viên box Hoá
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 56
  • Điểm bài viết: 4
    • Diễn đàn thế giới hoá học
đó! ai nói cho em cái đó

vẽ 1 cái hình lập thể ra xong sau đó quay quay cuối cùng ra cấu hình R,S
cái đó làm như thế nào
 ~X( ~X( ~X( ~X(

chỉ em phát
hix, bạn nói sao đơn giản đến nổi khó hiểu quá, vẽ cái hình lập thể bằng cách nào, sở dĩ cấu hình R,S của những thằng bất đối tứ diện đơn giản thì rất dễ chứ không khó, chẳng hạn như ta vẽ một thằng fischer ra, rồi ráng nhìn từ phía C trung tâm đến thằng nhóm thế ưu tiên thấp nhất, xong xác định ngầm trong đầu thứ tự hai thằng lớn nhất và nhì thui !
Rồi xem nếu ta vuốt một đường đi qua thằng lớn nhất và thằng lớn nhì, thì đường đó sẽ đi theo nét đầu của chữ R hay nét đầu của chữ S, nói khó hiểu quá phải không ! để vẽ cái hình ra hiểu liền:

hix, hình chỉ mang tính chất minh họa lời nói, anh em xem đỡ, đừng chửi !!!

05 Tháng Chín, 2006, 08:32:31 PM
Reply #7
  • Đại sứ chemvn - Thành viên box Hoá
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 56
  • Điểm bài viết: 4
    • Diễn đàn thế giới hoá học
hing nhu BLUE nham rui theo cong thuc fish thi ngc lai moi dung
sao lại ngược lại, mình đâu có nói thẳng trong công thức fischer thì nhóm nhỏ nhất ở trục nào đâu !!! hix, coi chừng bạn quá "vững" lí thuyết rùi đó !
Cứ theo đúng qui tắc chung mà làm, đó là cứ nhìn từ thằng trung tâm ra sau khi ta đã tưởng tượng thằng đang xét lơ lửng trong không gian rùi !!!
Còn về bản chất công thức fischer thì ... chắc chắn phổ thông không nói tới đâu, vì thực chất công thức fischer không dùng để mô tả những hợp chất đối xứng đơn giản đâu, mà mục đích của nó lúc người ta sáng tác ra là để phục vụ cho hoá sinh nhiều hơn đấy, nhất là những ông aminoacid, đúng thế không bác shindo !!! Cái này sư phạm chắc học super kĩ !!!

05 Tháng Chín, 2006, 10:07:07 PM
Reply #8
  • ADMIN
  • ******
  • Posts: 6302
  • Điểm bài viết: 412
Ông toàn làm khó tui. Thế này vậy
1) Trong công thức phối cảnh ta sẽ nhìn dọc theo trục liên kết C - d (với d là nhóm thế có Z bé nhất), và ta phải nhìn như thế nào để liên kết C - d phải xoay chuyển để liên kết này đi về phía sau mặt phẳng (cái đó là óc tưởng tượng của mỗi con người, không có mẹo vặt gì ở đây đâu). Sau đó "như sách dạy"
2) Fischer, ngược hoàn toàn với phối cảnh, trong phối cảnh R là cùng chiều kim thì trong Fischer là ngược, và tương tự cho S.
Đó là những cách cơ bản nhất vậy :D

2) Fischer, ngược hoàn toàn với phối cảnh
Chắc không bác :D

Tất nhiên là chắc nếu thằng cu chịu khó bổ sung cho anh chỗ này: Liên kết C - d trong công thức phối cảnh khi chuyển sang Fischer phải được đặt trên đường ngang, được chưa :D
« Last Edit: 11 Tháng Tư, 2009, 06:34:15 PM by Oxy »

06 Tháng Chín, 2006, 04:18:10 PM
Reply #9
  • Mod box Hoá học - BTC Gala Hoá học Online 2008
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 281
  • Điểm bài viết: 33
  • Ho Chi Minh City Medicine and Pharmacy University
I. Khái niệm về ancaloit:
Ancaloit là những hợp chất hữu cơ có chứa dị vòng nitơ, có tính bazơ, thường gặp ở trong nhiều loài thực vật và đôi khi còn tìm thấy trong một vài loài động vật.
Đặc biệt, ancaloit có hoạt tính sinh lý rất cao đối với cơ thể con người và động vật, nhất là đối với hệ thần kinh. Với một lượng nhỏ có ancaloit là chất độc gây chết người nhưng lại có khi nó là thần dược trị bệnh đặc hiệu.
II. Sơ lược về cây thuốc lá
Hình dạng cây thuốc lá:

1. Đặc điểm thực vật
Cây thuộc thảo, sống hàng năm. Thân mọc đứng, cao khoảng 0,6 - 1,5m, phần gốc hoá gỗ. Lá hình bầu dục hơi thọn, mọc so le, không có cuống, một mẩu lá phía dưới ôm vào thân, các lá phía trên bé hơn hình lưỡi mác. Thân và lá có nhiều lông.
Hoa nhiều, tập hợp thành chuỳ ở ngọn. Đài có lông, tràng màu trắng hay hồng hoặc tím nhạt. Đài và tràng đều liền cánh. Tràng dài gấp 4 - 5 lần đài, phía dưới thành ống nhỉ, phía trên mọc loe rộng ra.
Quả nang có 2 ô, có đài tồn tại bọc ở ngoài, trong chứa nhiều hạt rất nhỏ màu đen.
2. Thành phần hóa học
Trong lá cây thuốc lá có các ancaloit là hoạt chất, trong đó ancaloit chính là nicotin (khoảng 10 - 16% ở thuốc lá và 16% ở thuốc lào). Nó ở trong cây thuốc lá dưới dạng muối kết hợp với axit limonic. Nicotin là chất lỏng như dầu, không màu, sôi ở 247 độ C, nó nâu lại nhanh chóng trong không khí do bị oxy hóa, nó dễ bay hơi có mùi thuốc lá, dễ tan trong ước, dung dịch có tính bazơ mạnh.
Nicotin là một ancaloit rất độc, chỉ có vài mg cũng gây nhức đầu, ói mửa, với lượng lớn hơn nó kìm hãm hoạt động của hệ thần kinh, làm ngưng hô hấp, tê liệt hoạt động của tim, do đó không nên hút thuốc lá.
Một số kết qủa điều tra cho thấy rằng những người nghiện thuốc lá đều bị nám phổi, một số đáng kể bị ung thư phổi và dẫn đến tử vong.
Ngoài ra trong thuốc lá còn có một số ancaloit phụ có cấu trúc hóa học tương tự như Nornicotin; nicotyrin; anabazin; N - metylanabazin, nicotelin... CTCT của chúng như sau:

III. Một số tác hại của thuốc lá
- 90% ung thư phổi.
- Gây nhiều bệnh về phổi, về tim mạch
- Có thể gây nghiện nên có thể liệt vào danh sách chất ma túy.
IV. Tác hại của thuốc lá đối với cơ thể con người
- Khi hút thuốc lá, tức là nạp vào cơ thể một lượng chất độc đáng kể, mà nguy hiểm nhất là nicotin, khí CO và các tạp chất được gọi là hắc ín.
- Nicotin qua phổi rồi vào máu, có tác dụng làm dày thành động mạch, gây hẹp động mạch, hẹp mạch vành, dẫn tới hẹp van tim, do đó khó khăn cho sự lưu thông của máu, có thể dẫn tới suy mạch vành, suy tim và tử vong. Mặt khác nicotin còn làm đông máu trong mạch máu, dẫn tới nhồi máu cơ tim cấp và có thể dẫn tới tử vong.
Hàm lượng nicotin trong máu càng nhiều thì sự kích thích nhịp đập của tim càng nhanh nên dễ dàng gây nên bệnh tăng huyết áp.
Nicotin là một chất dễ gây nghiện, khi hút thuốc lá thì một lượng nicotin đã vào máu, nếu thiếu nó sẽ gây khó chịu, gây thèm muốn hút thuốc lá.
- Khi hút thuốc lá còn tạo CO. Thằng này đi qua phổi vào máu sẽ phá huỷ hồng cầu, làm mất khả năng chuyên chở oxy trong máu, do đó làm cơ thể thiếu oxy, làm giảm khả năng trao đổi chất trong cơ thể, làm cơ thể gầy gò ốm yếu (như anh Shindo vậy  =)))
- Khi hút thuốc lá có một số tạp chất bị tích tụ lại gọi là hắc ín, các chất này tích tụ trong cuống phổi, niêm mạc phỏi và cứ như thế chồng chất ngày càng nhiều, lâu ngày sẽ gây tắc nghẽn hô hấp dẫn đến tử vong.
Hút thuốc lá còn có tác hại đến khả năng sinh sản.
- Đối với nam giới thì làm giảm tinh trùng, làm giảm khả năng hoạt động sinh lý, rối loạn tình dục.
- Đối với phụ nữ nghiện thuốc lá có thể gây một số bệnh nguy hiểm như giảm khả năng mang thai, có thai ngoài tử cung, nếu có thai sẽ làm thai nhi kém phát triển, dễ sinh non thiếu tháng, sinh bé nhẹ cân, bé sinh ra trí não phát triển chậm, kém thông minh, thậm chí có người sinh con còn dị dạng, quái thai. Thật vậy theo một số tài liệu nghiên cứu và trên phương tiện thông tin đại chúng cho biết thai nhi có khả năng hấp thụ nicotin tăng gấp 15 so với nicotin trong máu của người mẹ, nó còn được hấp thụ vào nước ối của bào thai nên gây nhiễm độc thai nghén dẫn đến sinh non hoặc chết lưu trong bào thai.
Hút thuốc lá còn gây tốn kém về mặt tài chính cá nhân, cụ thể tự tính: mỗi người một ngày hút 10 điếu thuốc lá, mỗi bao thuốc lá trung bình 10000 đồng thì một năm sẽ tiêu tốn 1800000, đó là một phần tài chính đáng kể trong ngân sách cá nhân đã hao phí không đáng có.
Ảnh hưởng của khói thuốc lá đối với những người xung quanh cũng nguy hiểm không kém so với người trực tiếp hút thuốc lá. Khói thuốc lá gâu ảnh hưởng trực tiếp đến những người không hút thuốc lá như buồn nôn, ói mửa, gây chóng mặt, gây khó thở, ăn không thấy ngon miệng, gây mất cảm hứng, gây ức chế, gây cay mắt, chảy nước mắt, gây ho... Trong phòng lạnh, máy điều hòa nhiệt độ không có tác dụng lọc khói thuốc lá mà có tác dụng làm lan tỏa nhanh và đều khói thuốc lá nên nguy hiểm hơn.
Vì những tác hại của thuốc lá gây ra nên khuyên mọi người không nên hút thuốc lá, hút thuốc lá có hại đến sức khỏe. Quy định chung là cấm hút thuốc lá nơi công cộng, bệnh viện, trường học, đi tàu xe, trong phòng lạnh. Quy định quốc tế cũng như quy định của nước ta còn cấm quảng cáo thuốc lá trên các phương tiện thông tin đại chúng và nơi công cộng, không tài trợ cũng như không hỗ trợ cho các hoạt động xã hội; nghiêm cấm việc bán thuốc lá cho trẻ em dưới 16 tuổi, trên sản phẩm bao thuốc lá còn yêu cầu ghi "Hút thuốc lá có hại đến sức khỏe". Ở nước ta, năm 2003 đã tổ chức đại hội thể thao thành công với tiêu chí "Một SEAGAMES không thuốc lá!". Hãy chung tay vì một thế giới không còn thuốc lá.
« Last Edit: 12 Tháng Tư, 2009, 03:46:57 PM by Oxy »

06 Tháng Chín, 2006, 04:52:37 PM
Reply #10
  • Mod box Hoá học - BTC Gala Hoá học Online 2008
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 281
  • Điểm bài viết: 33
  • Ho Chi Minh City Medicine and Pharmacy University
Tiếp theo là cây thuốc phiện  :D.
I. Sơ lược về cây thuốc phiện:

Cây thuốc phiện là loại cây thảo, sống hàng năm, cao 0,7 - 1,5m, ít phân nhánh, thân mọc thẳng. Lá mọc cách, lá ở phía dưới có cuống ngắn, lá ở phía trên không cuống, mọc ôm vào thân cây, mép có răng cưa, lá hình trứng dài 6 - 50cm, rộng 3,5 - 30cm, đầu trên nhọn, ở phía dưới cuống tròn hoặc hơi hình tim. Gân lá nổi rõ ở mặt dưới.
Hoa to đơn độc mọc ở đầu thân hoặc đầu cành, có cuống dài 12 - 14cm, đài hoa gồm hai lá đài màu xanh sớm rụng khi hoa nở, lá đài dài 1,5 - 2cm. Tràng có 4 cánh, dài 5 - 7cm màu trắng hay tím hoặc hồng. Nhị nhiều, bao quanh một bầu có một ngăn gồm 15 - 20 lá noãn dính liền nhau thành hình cầu.
Quả là một nang hình cầu hoặc hình trứng dài 4 - 7cm, đường kính 3 - 6cm, ở đỉnh có núm, qủa có cuống phình ra ở chỗ nối. Qủa chín có màu vàng xám. Hạt nhỏ và nhiều (mỗi qủa có từ 25000 đến 30000 hạt), hơi giống hình thận, dài 0,5 - 1mm, trên mặt có vân hình mạng, màu xám hay vàng nhạt hoặc xám đen.
Toàn thân cây bấm chỗ nào cũng có nhựa màu trắng, để lâu chuyển thành nâu đen.
II. Các ancaloit chính trong cây thuốc phiện:
Các ancaloit trong cây thuốc phiện nằm chủ yếu trong nhựa thuốc phiện (20 - 30%) và thường ở dạng muối. Tới nay đã phân lập được khoảng 40 ancaloit.

Loại hay gặp nhất trong các loại trên là morphin.
- Nó là một chất kết tinh có nhiệt độ nóng chảy là 230 độ C (đồng thời phân huỷ), ít tan trong nước, kết tinh ngậm một phân tử nước, tan trong kiềm vì có nhóm phenol, morphin vừa có tính bazơ, vừa có tính axit yếu (lưỡng tính).
- Là thứ thuốc rất có giá trị trong y học: làm giảm đau, thuốc ngủ.
- Morphin dễ gây nghiệmm, nếu lạm dụng thì đó là chất ma túy cực kỳ nguy hiểm.
- Giá trị quý giá của morphin là tác dụng giảm đau theo kiểu tiêu cảm giác đau, tác dụng lên trung tâm xác định của bán cầu não: sự tác động lên trung tâm này là cực kỳ quý báu vì với liều lượng nhỏ làm giảm đau mà không làm xáo trộn ý thức. Ngay những liều lượng rất nhỏ cũng được tác dụng đến trung tâm thở, tần số thở bị giảm xuống, sự hạ thấp của nhịp thở tức khắc được tăng lên cho đến khi phá bỏ các cơn ho tức khắc. Nếu lượng morphin lớn sẽ có hại, làm người chết do tình trạng tê liệt trung tâm thở. Sử dụng trị liệu của morphin bị hạn chế vì tính thích nghi và gây nghiện nguy hiểm.
Cần phải nhấn mạnh là sự nguy hiểm của chủ nghĩa morphin, sự biểu hiện độc hại morphin kinh niên - tác dụng khoan khoái không gặp ở mọi người. Yêu cầu về morphin dẫn đến số gam ngày càng tăng nhiều lên - kết qủa này dẫn đến cuối cùng của cái chết là bệnh ngủ, giảm trọng lượng cơ thể, xuất hiện các nốt đỏ trên da và mất hết sức cơ thể và sức tinh thần. Sự chống lại điều trị là trở nên khó khăn và lâu dài hơn.
Chứng nghiện ở codein là ít hơn, ở đây lợi thế cho nó trong liệu pháp được đưa ra. Tác dụng giảm đau và tính yên rõ ràng là ít hơn nhiều so với morphin. Codein có thể tác dụng kích thích (tính bổ dưỡng) của các dược liệu khác được tăng lên. Cũng như tác dụng chữa ho của codein yếu hơn morphin nhiều nhưng nó có nhiều cái tốt hơn nhờ tính chất không bị quen dần và không bị nghiện.
Morphin được axetyl hóa với anhydrit axetic tạo thành heroin


06 Tháng Chín, 2006, 04:55:31 PM
Reply #11
  • Mod box Hoá học - BTC Gala Hoá học Online 2008
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 281
  • Điểm bài viết: 33
  • Ho Chi Minh City Medicine and Pharmacy University
Nhân vật đáng chú ý tiếp theo trong gia đình "ma túy" sẽ là cây coca ;) :
I. Sơ lược về cây coca

Coca là một cây nhỡ, cao khoảng 2 - 4m, lá mọc so le, có cuống ngắn, có hai lá kèm nhỏ biến đổi thành gai. Phiến lá nguyên, hình bầu dục; hai bên gân giữa có hai đường cong lồi (gân giả), tương ứng với hai nếp gấp của lá trong chồi.
Hoa nhỏ, mọc đơn hoặc tập trung 3 - 4 cái thnàh xim ở kẽ lá. Hoa lưỡng tính, năm lá đài màu xanh, tràng 5 cánh màu vàng nhạt, 10 nhị, bầu 3 ô có 3 vòi rời nhau, hai ô của bầu lép đi, ô thứ ba đựng 1 - 2 noãn đảo. Hoa nở rộ vào tháng 3 và tháng 4.
Qủa hạch hình trứng, khi chín có màu đỏ, có mang lá đài còn sót lại, đựng một hạt có nội nhũ.
II. Các ancaloit chính có trong cây coca
Ancaloit nằm trong lá coca, được chia làm hai nhóm
a) Dẫn xuất của N - metylpirolidin gồm những bazơ không bay hơi như Hygrin; cuscohygrin và một lượng nhỏ nicotin
b) Dẫn xuất của pseudotropin và ecgonin (axit pseudotropin cacboxylic) gồm những bazơ không bay hơi, nhóm này quan trọng: cocain; xinamoylcocain; cocaetylen; tropacocain; benzoyl ecgonin.
Công thức cấu tạo của các chất này như sau:

Quan trọng nhất là cocain.
- Cocain là ancaloit có trong lá cây coca mọc ở Nam Mỹ.
- Cocain là chất kết tinh có tinh thể hình lăng trụ, có nhiệt độ nóng chảy là 98 độ C, khó tan trong nước, dễ tan trong rượu và ete.
- Cocain là thuốc tê từng phần rất mạnh, là thuốc gây mê mạnh, song là thuốc độc gây mệt nhọc, suy nhược cơ thể, trong một số trường hợp thì có thể thay cocain bằng novocain.

07 Tháng Chín, 2006, 02:00:16 PM
Reply #12
  • Đại sứ chemvn - Thành viên box Hoá
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 56
  • Điểm bài viết: 4
    • Diễn đàn thế giới hoá học
Ơ, đại ca cũng xét như thế này hả !
Zaay không có tuyệt chiêu j rồi, buồn ghê !
hix, tại cái này ví dụ dễ quá, chẳng hạn như nâng cao lên một tí, mấy thằng chiral kiểu spiro thì đọc như thế nào chẳng hạn, hay mấy thằng ether crown ... đó mới là những cái nâng cao một tí... hix, mà quanh đi quẩn lại thì danh pháp chẳng có cái gì thông minh đâu, qui tắc hết mà !

07 Tháng Chín, 2006, 10:23:13 PM
Reply #13
  • Đại sứ chemvn - Thành viên box Hoá
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 56
  • Điểm bài viết: 4
    • Diễn đàn thế giới hoá học
Cái này đáng lí ra thằng TTVN theo như đã hứa phải viết phần cơ bản lập thể, từ đó anh mới dẫn dụ một số nomenclature ra cho hấp dẫn thêm ! đằng này thấy nó im luôn nên anh cũng lười, vì đang viết mấy bài sinh nhật chemvn !!! hix ! thông cảm nhé !

Chăng hạn như ta có mô hình như trên, thứ tự a,b,c,d thế nào tuỳ mấy chú, anh dễ tính lắm, bây giờ thử xem nếu a<b<c<d thì nói cho anh biết thằng trên R hay S !!!
Thế thôi !

07 Tháng Chín, 2006, 11:07:38 PM
Reply #14
  • Guest

Bác BM lạ đời nhể :P, người ta ký hiệu a>b>c>d thì bác lại làm ngược lại ~>:)
Nếu a<b<c<d thì cấu hình là Sinister  >-)
« Last Edit: 07 Tháng Chín, 2006, 11:20:54 PM by Samokhodnaya_Ustanovska »