Please login or register.

Login with username, password and session length

Author Topic: Âm nhạc - Tác giả và tác phẩm  (Read 13851 times)

28 Tháng Mười, 2006, 11:09:34 PM
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 718
  • Điểm bài viết: 44
  • I love you as mouse love rice ^_^
List

Trang 1

An Thuyên
Cao Việt Bách
Chu Minh
Hoàng Hiệp
Hoàng Vân
Hoàng Việt
Huy Du
Linh Nga Niêk Đam
Lưu Hữu Phước
Nguyễn An
Nguyễn Văn Tý
Nguyễn Văn Thương
Nguyễn Xuân Khoát
Nguyễn Đức Toàn


Trang 2

Phan Huỳnh Điểu
Phó đức Phương
Phạm Tuyên
Tôn Thất Lập
Thế Bảo
Trần Hoàn
Trần Long Ẩn
Trần Tiến
Trịnh Công Sơn
Trọng Bằng
Trọng Đài
Văn An
Văn Cao
Xuân Hồng
Đỗ Hồng Quân




« Last Edit: 11 Tháng Hai, 2007, 02:54:22 PM by minhhieu »

28 Tháng Mười, 2006, 11:11:55 PM
Reply #1
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 718
  • Điểm bài viết: 44
  • I love you as mouse love rice ^_^
An Thuyên

Họ và tên: Nguyễn An Thuyên
Ngày sinh: 15/8/1949
Quê quán: Nghệ An
Nơi ở hiện nay: Hà Nội
Website: www.anthuyen.com



Ông công tác ở Ty Văn hóa Nghệ An từ năm 1967. Năm 1975, ông vào bộ đội. Năm 1977, ở Đoàn Văn công QK IV.

Từ năm 1981 đến năm 1988, ông được cử đi học ở Nhạc viện Hà Nội, môn Sáng tác âm nhạc bậc Đại học. Sau khi tốt nghiệp, năm 1988, ông về Phòng Văn nghệ Quân đội và đến tháng 8 năm 1992, ông về công tác ở Trường Nghệ thuật Quân đội cho đến nay. Hiện nay, nhạc sĩ An Thuyên là Hiệu trưởng Trường ĐH Văn hoá - Nghệ thuật quân đội, Phó Chủ tịch Hội nhạc sĩ Việt Nam, Tổng biên tập website www.vnmusic.com.vn


An thuyên sáng tác ca khúc khá đều đặn và đều tay. Nhiều tác phẩm có chất lượng tốt và đã có sức lan tỏa rộng như: Em chọn lối này, Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác, Hành quân lên Tây Bắc, Khi xe tăng qua miền Quan họ, Thơ tình của núi, Chín bậc tình yêu, Huế thương, Neo đậu bến quê, Mẹ Việt Nam anh hùng… Ông còn viết một số kịch hát đã được dàn dựng ở nhiều Đoàn Văn công như: Trương Chi, Đôi đũa kim giao, Biển tình cay đắng.

Ngoài ra, ông còn sáng tác cho khí nhạc, đáng chú ý có Concerto cho flute và dàn nhạc giao hưởng. Ông còn viết nhạc cho phim và viết phần âm nhạc cho khoảng 60 vở kịch nói, tuồng, chèo… Các giải thưởng: Giải Nhất cuộc thi ca khúc toàn quốc năm 1985: Tiếng đàn balalaica trên sông Đà (phỏng thơ Quang Huy), Giải thưởng chính thức của Bộ Quốc phòng: Hành quân lên Tây Bắc (1984), Thơ tình của núi (1994); Giải Nhất của Bộ Văn hóa - Thông tin và Hội Nhạc sĩ Việt Nam: Khi xe tăng qua miền Quan họ (1985), Mẹ Việt Nam anh hùng (1995); Giải Nhì Hội Nhạc sĩ Việt Nam: Chín bậc tình yêu (1992). Đã xuất bản: Tuyển chọn ca khúc An Thuyên (Nhà xuất bản Âm nhạc), Album An Thuyên (DIHAVINA).

Khen thưởng: Chiến sĩ thi đua, Chiến sĩ quyết thắng (12 năm liền), Huân chương lao động hạng III, Huân chương chiến công hạng I.

 
TÁC PHẨM 

Ca dao em và tôi 
Huế thương 
Dương Cầm thu không em 
Hồ Gươm chiều thu 
Chín bậc tình yêu 
Bài tình ca dưới mặt trời 
Chào mùa xuân thênh thang 
Biển lạnh 
Đi tìm bóng núi
Ca dao em và tôi 
Hà Tĩnh mình thương 
Neo đậu bến quê 
Hà Nội mùa sương 
Thơ tình của núi 

28 Tháng Mười, 2006, 11:14:00 PM
Reply #2
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 718
  • Điểm bài viết: 44
  • I love you as mouse love rice ^_^
Cao Việt Bách

Họ và tên: Cao Việt Bách
Ngày sinh: 10/10/1940
Nguyên quán: Hưng Yên


 


Cao Việt Bách tham gia hoạt động ca hát từ Thiếu sinh quân. Năm 1959, ông sang học chỉ huy hợp xướng ở Trường Sư phạm Âm nhạc Gnesin (Liên Xô cũ).

Về nước 1962 công tác tại Đoàn ca múa Nhân dân Trung ương (nay là Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam). Từ 1969 đến nay, chỉ huy Dàn nhạc Đài tiếng nói Việt Nam. Trên bục chỉ huy, Cao Việt Bách có một phong cách và một cá tính riêng rất rõ.

Ngoài học chỉ huy, Cao Việt Bách còn nổi tiếng là một nhạc sĩ sáng tác với các ca khúc: Leo núi, Gửi Huế thành phố thép anh hùng, Mang hình Bác chúng ta lên đường, Vầng trán Bác Hồ, Tiếng đàn mùa xuân (thơ Lưu Trọng Lư), và đặc biệt nổi lên tiếng với bài hát Tiếng hát từ thành phố mang tên Người (Lời Đăng Trung). Các bản hợp xướng: Mảnh đất quê hương, Rộn ràng tiếng trống Đông Xuân, Mặt trời em là quê hương (hợp xướng không nhạc đệm).

Cao Việt Bách đã dàn dựng thành công nhạc kịch Fidélio và viết cho dàn nhạc thính phòng tác phẩm Bức tranh người Việt cổ. Ngoài ra, ông còn viết nhiều nhạc cho múa, sân khấu và điện ảnh. Đam mê sáng tạo âm nhạc là điều tâm niệm suốt đời của Cao Việt Bách.


 
 
TÁC PHẨM 

Cung đàn mùa xuân 
Tiếng hát từ thành phố mang tên Người 

 

28 Tháng Mười, 2006, 11:15:44 PM
Reply #3
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 718
  • Điểm bài viết: 44
  • I love you as mouse love rice ^_^
Chu Minh

Họ và tên: Triệu Đạt Hiền
Ngày sinh: 05/01/1931
Nguyên quán: Hà Nội

 


Ông sinh ngày 5-1-1931, tại Hà Nội. Hiện đã nghỉ hưu. Năm 1962 đến 1965, ông học sáng tác tại nhạc viện Trung ương Bắc Kinh. Năm 1965 đến 1994 làm chủ nhiệm khoa Sáng tác - Lý luận - chỉ huy Nhạc viện Hà Nội.


Thời chống Pháp ông đã có nhiều sáng tác về ca khúc: Chiến thắng biên giới, Hoa sen, Ta có cụ Hồ. Nhưng phải đến những năm tháng đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thì tên tuổi của Chu Minh mới thật sự toả sáng. Các ca khúc tiêu biểu: Đường Trường sơn chiến công gọi, Người là niền tin tất thắng, Ta tự hào đi lên ôi Việt Nam, Màu xanh ánh mắt yêu thương, Ru lời tôi ru, Em có nghe chăng nơi đây Cao Nguyên, Biển của anh biển của em... Ngoài ra ông còn có một số tác phẩm khí nhạc: Giao hưởng Miền Nam tuyến đầu, Tứ tấu đàn dây, Tổ khúc khăn quàng đỏ, nhạc kịch Tiếng ru, các Sonate 1, 2, 3 và nhạc cho phim, nhạc múa...Đã xuất bản tuyển tập ca khúc: người là niềm tin tất thắng, Tuyển chọn ca khúc Chu Minh và album Nặht tiếng đàn riơi, Nxb Dihavina (1994).


Ông được Nhà nước phong tặng hàm Phó Giáo sư và nhiều huân huy chương kháng chiến.

 
 
TÁC PHẨM
 
Ta tự hào đi lên ôi Việt Nam   
Người là niềm tin tất thắng
Em xa có nhớ 
Chú mèo 

 

28 Tháng Mười, 2006, 11:18:03 PM
Reply #4
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 718
  • Điểm bài viết: 44
  • I love you as mouse love rice ^_^
Hoàng Hiệp

Họ và tên: Lưu Trần Nghiệp
Ngày sinh: 01/10/1931
Nguyên quán: An Giang
Nơi ở hiện nay: TP. Hồ Chí Minh

 


Hoàng Hiệp có bút danh là Lưu Nguyễn, sinh ngày 01/10/1931 tại An Giang. Hiện đang cư trú tại thành phố Hồ Chí Minh.

Những ngày tháng Tám năm 1945, Hoàng Hiệp tham gia Cách mạng. Là hạt nhân văn nghệ của đoàn Tuyên truyền lưu động Long Xuyên, sau đó Hoàng Hiệp chuyển về đoàn văn công và phân hội Văn nghệ Long Châu Hà.

Năm 1954, Hoàng Hiệp tập kết ra Bắc học khoá sáng tác đầu tiên của Trường âm nhạc Việt Nam (nay là Nhạc viện Hà Nội). Năm 1956, ông viết Câu hò bên Bến Hiền Lương (lời Hoàng Hiệp và Đằng Giao). Năm 1960, ông làm biên tập viên ở Nhà xuất bản Âm nhạc. Năm 1965, ông viết bài Cô gái vót chông (phỏng thơ Môlôyclavi), tiếp đến là bài Soi đường cho ta đi đánh giặc. Năm 1966, ông viết bài Ngọn đèn đứng gác (thơ Chính Hữu). Năm 1968, bài Đất quê ta mênh mông (thơ Dương Hương Ly).

Nhìn chung đề tài về chiến đấu và xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được Hoàng Hiệp khai thác từ nhiều khía cạnh. Âm nhạc của ông mạnh mẽ, sôi nổi nhưng lại trữ tình, sâu lắng. Năm 1969, Hoàng Hiệp chuyển công tác sang Nhà xuất bản Giải phóng. Năm này, ông viết Ơi nhà máy của ta. Năm 1970, có Hát trên đồng 10 tấn, Năm 1971, bài Tiếng hát từ thượng nguồn, liên khúc Những bài hát của người chiến sỹ lái xe (thơ Phạm Tiến Duật) gồm 4 bài: Nghe hò đêm bốc vác, Qua cầu Tuỳ Cốc, Trường Sơn đồng - Trường Sơn tây, Tiểu đội xe không kính. Năm 1972, ông viết bài Lá đỏ (thơ Nguyễn Đình Thi).

Sau năm 1975, Hoàng Hiệp về công tác tại Nhà xuất bản Âm nhạc thành phố Hồ Chí Minh, sau chuyển sang Hội âm nhạc thành phố và một thời gian làm Tổng thư ký Hội.

Sống trong cảnh đất nước thanh bình, tính trữ tình trong ca khúc của ông như có dịp được tuôn trào. Nhiều bài hát ở giai đoạn này đã được phổ biến rộng rãi và được công chúng đón nhận nồng nhiệt như: Về đất Mũi, Con đường có lá me bay, Sao anh không kể, Em vẫn đợi anh về (thơ Lê Giang), Khi anh nhìn em (thơ Lê Thị Kim), Mùa chim én bay, Thơ tình của người lính biển (thơ Trần Đăng Khoa), Viếng Lăng Bác (thơ Viễn Phương), Nhớ về Hà Nội…

Nhìn chung ca khúc của Hoàng Hiệp mang đậm âm hưởng dân gian các vùng miền, dễ nhớ, dễ xúc động. Ông cũng là nhạc sĩ thành công trong việc phổ nhạc cho thơ. Ngoài sáng tác ca khúc, Hoàng Hiệp còn viết nhạc cho sân khấu kịch nói như: Người ven đô, Màu giấy mới, Xa thành phố yêu dấu, nhạc cho các vở cải lương Thái hậu Dương Vân Nga, Tiền và Nghĩa; viết nhạc cho phim truyện và phim tài liệu: Cánh đồng mơ ước, Bản nhạc người tù, Mùa gió chướng, Nơi gặp gỡ của tình yêu, Biệt động Sài Gòn…

Hoàng Hiệp còn là tác giả, dịch giả cuốn nhạc lý cơ bản của Spasspbine, và nhiều sách giáo khoa âm nhạc. Ông có nhiều tuyển tập ca khúc, album audio đã xuất bản. Bằng sự cống hiến hết mình cho nghệ thuật, nhạc sĩ Hoàng Hiệp đã được nhận nhiều giải thưởng lớn.

Năm 2000, Hoàng Hiệp được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật cho các tác phẩm: Câu hò bên Bến Hiền Lương, Cô gái vót chông, Ngọn đèn đứng gác, Trường Sơn đông - Trường Sơn tây, Viếng Lăng Bác, Nhớ về Hà Nội.

 
 
TÁC PHẨM 

Câu hò bên bến Hiền Lương 
Nhớ về Hà Nội   
Đất quê ta mênh mông 
Câu hò bên bến Hiền Lương 
Mùa chim én bay 
Nhớ về Hà Nội 
Viếng lăng Bác 
Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây 
Ngọn đèn đứng gác 
Lá đỏ 
Em vẫn đợi anh về 
Chút thơ tình người lính biển 
Trở về dòng sông tuổi thơ 
Thành phố tôi yêu 

28 Tháng Mười, 2006, 11:19:59 PM
Reply #5
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 718
  • Điểm bài viết: 44
  • I love you as mouse love rice ^_^
Hoàng Vân

Họ và tên: Lê Văn Ngọ
Ngày sinh: 24/7/1930
Quê quán: Hà Nội
Nơi ở hiện nay: Hà Nội




Năm 1946, tham gia Đội Thiếu niên cứu quốc Mai Hắc Đế, là liên lạc viên tự về khu Đông Kinh Nghĩa Thục (Liên khu I) Hà Nội, rồi làm phụ trách Thiếu sinh quân Trung đoàn 165, Sư đoàn 312, tham gia Đội Tuyên truyền võ trang Lao Hà, làm báo và công tác địch vận của trung đoàn, sư đoàn, sau đó phụ trách nghệ thuật Văn công Sư doàn 312.

Hoà bình lập lại, ông về chỉ huy dàn nhạc Đoàn Ca Nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam kiêm chỉ đạo nghệ thuật, tham gia giảng dạy môn sáng tác và Phối khí tại Nhạc viện Hà Nội (cho đến năm 1989). Từ năm 1963 đến năm 1989, ông là Uỷ viên Ban Chấp hành Hội nhạc sĩ Việt Nam, là Trưởng ban Sáng tác Thanh Nhạc và công tác tại Hội cho đến năm 1996.

Về sáng tác, ngay từ năm 1951 ông đã viết nhiều ca khúc, có những bài được phổ biến rộng rãi ở vùng Tây Bắc, Việt Bắc và trong quân đội, như Chiến thắng Hoà Bình, Tin chiến thắng, Chiến thắng Tây Bắc. Đến năm 1954, ông đã viết bài hát nổi tiếng Hò kéo pháo. Sau hoà bình lập lại, ông được cử đi học tại Nhạc viện Bắc Kinh (Trung Quốc). Tốt nghiệp, ông về công tác tại Đài tiếng nói Việt Nam, Nhạc trưởng Đoàn ca Nhạc kiêm Chỉ đạo nghệ thuật, đồng thời đi thực tế, nắm bắt nhanh các loại đề tài trong cuộc sống lao động và chiến đấu, nên đã sáng tác hàng loạt ca khúc, hợp xướng lớn, nhỏ, được công chúng hâm mộ, như: Những cánh buồm (thơ Hoàng Trung Thông), Nhớ (thơ Nguyễn Đình Thi), Bài ca người thủy thủ (thơ Mai Nam, tức Hà Nhật), trường ca Tôi là người thợ lò, Hà Nội - Huế - Sài Gòn, Quảng Bình quê ta, Nổi trống lên rừng núi ơi, Không cho chúng nó thoát, Bài ca giao thông vận tải, Chào anh Giải phóng quân - chào mùa xuân đại thắng. Hai chị em, Tiếng cồng giải phóng - tiếng cồng chiến thắng (bút danh Y - Na), Trên đường tiếp vận (bút danh Y -Na), Người chiến sỹ ấy.....

Giai điệu của ông mượt mà, nồng ấm, bắt nguồn nhuần nhuỵ từ các điệu dân ca khác nhau, kỹ thuật sáng tác già dặn, luôn luôn có sáng tạo, không tự lặp lại mình. Ngoài ca khúc, ở thể loại thanh nhạc, ông có nhiều tác phẩm hợp xướng và dàn nhạc giao hưởng như: Hồi tưởng, Việt Nam muôn năm, Vượt núi, Tuổi lên mười, Hát dưới cờ búa liềm. Trong lĩnh vực khí nhạc, ông có nhiều tác phẩm thành công như: Fugue cho piano, Tổ khúc cho hautbois và piano, Rhapsodie cho violon, độc tấu kèn basson Hành khúc con voi, độc tấu flute Vui được mùa, Hoa thơm bướm lượn, âm nhạc cho vũ kịch Chị Sứ, Concerto cho piano và dàn nhạc, giao hưởng thơ Thành đồng Tổ quốc, Giao hưởng số 1.

Ngoài ra, ông còn sáng tác âm nhạc cho phim truyện như Nổi gió, Con chim vành khuyên, Mối tình đầu, phim tài liệu, phim hoạt hình, kịch nói, chèo, cải lương, nhiều ca khúc cho thiếu nhi được các em yêu thích Mùa hoa phượng nở, Em yêu trường em. Sau năm 1975, ông đã đi thực tập một thời gian tại Nhạc viện Sofia (Bulgarie), sau khi về, ông tiếp tục cho ra đời nhiều tác phẩm mới, như Bài ca xây dựng, Tình yêu của đất và nước, Hát về cây lúa hôm nay, Bài ca tình bạn, Tình ca Tây Nguyên... Ông cũng đã góp phần không nhỏ vào việc đào tạo những lớp nhạc sĩ trẻ với thời gian giảng dạy tại Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Nhạc viện Hà Nội).

Đã xuất bản: Hai chị em (Nhà xuất bản Âm nhạc, 1973), 6 ca khúc Hoàng Vân (Nhà xuất bản Âm nhạc, 1980), Ca khúc Hoàng Vân (Nhà xuất bản Âm nhạc, 1986), Tuyển chọn ca khúc Hoàng Vân (Nhà xuất bản Âm nhạc và Hội nhạc sĩ Việt Nam) kèm theo băng cassette audio. Xuất bản tại nước ngoài: tổng phổ giao hưởng Thành đồng Tổ quốc (in tại Cộng hoà Dân chủ Đức và Bulgarie), Hành khúc con voi (Voi kéo gỗ) (Nhà xuất bản Âm nhạc Moscou, Liên Xô cũ).

 

TÁC PHẨM 


Tình ca Tây Nguyên
Quảng Bình quê ta ơi 
Hát về cây lúa hôm nay 
Bài ca xây dựng 
Hà Nội - Huế - Sài Gòn 
Người chiến sĩ ấy 
Tình yêu của đất và nước 
Tôi là người thợ lò 
Tình ca người thợ mỏ 

 

29 Tháng Mười, 2006, 08:45:58 PM
Reply #6
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 718
  • Điểm bài viết: 44
  • I love you as mouse love rice ^_^
Hoàng Việt

Họ và tên: Lê Chí Trực
Bút danh: Lê Trực
Năm sinh: 1928
Năm mất: 1968
Nguyên quán: Cái Bè, Tiền Giang
Khen thưởng: Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT
Dòng nhạc: cách mạng, trữ tình   



Cách mạng Tháng Tám thành công, ông tham gia quân đội, hoạt động ở chiến trường miền Đông Nam Bộ trong 9 năm kháng chiến. Sau Hiệp định Geneve, Hoàng Việt tập kết ra Bắc.



Năm 1956, ông học tại Trường Âm nhạc Việt Nam. Năm 1958, Hoàng Việt được cử sang học tại Nhạc viện quốc gia Bulgarie. Năm 1968, Hoàng Việt hoàn thành xuất sắc khoá học, ông về nước tình nguyện trở lại chiến trường miền Nam và đã hy sinh trong tư thế người chiến sĩ - nhạc sĩ.



Hoàng Việt là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của lòng yêu nước, yêu quê hương tha thiết. Phẩm giá đó của ông được thể hiện cả ở hành động cuộc sống và tác phẩm. Ông đã từng nói: "Cho đến chết mới hết sáng tác cho đời". Những sáng tác cho đời của Hoàng Việt là những giai điệu trong sáng vang vọng tận bây giờ. Với bản Giao hưởng số 1 Quê hương, Hoàng Việt là một trong những nhạc sĩ đầu tiên đặt nền móng cho âm nhạc giao hưởng nước ta, và bản giao hưởng Quê hương đứng ở vị trí khởi đầu của một thể loại âm nhạc trong nền âm nhạc cách mạng Việt Nam: âm nhạc giao hưởng. Tác phẩm này được Dàn nhạc Giao hưởng Bulgarie biểu diễn và thu thanh. Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam cũng đã biểu diễn nhiều lần giao hưởng này. Ông đã viết những bài ca bất hủ, gắn liền với hai cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng của dân tộc. Ông hy sinh ngày 31 tháng 12 năm 1967 tại chiến trường Nam Bộ.



Vì những đóng góp xứng đáng của ông với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, Hoàng Việt đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Các tác phẩm: - Khí nhạc: Giao hưởng số 1 Quê hương, Giao hưởng số 2 Cửu Long (chưa hoàn thành). - Thanh nhạc: nhạc kịch Bông sen (viết cùng Nguyễn Vũ và Huỳnh Minh Siêng). - Ca khúc: Biệt đô thành, Tiếng còi trong sương đêm, Sở Thượng Giang, Lá xanh, Lên ngàn, Mùa lúa chín, Nhạc rừng, Tình ca, Đêm trăng qua đất Kiến Tường... Đã xuất bản: Giao hưởng Quê hương, Hội Nhạc sĩ Việt Nam (bản in roneo). Tuyển chọn ca khúc Hoàng Việt (Nhà xuất bản âm nhạc và Hội Nhạc sĩ Việt Nam), Album Hoàng Việt (DIHAVINA, 1995).


 
 
TÁC PHẨM 

Nhạc rừng 
Tình ca   
Lá xanh 
Lên ngàn...

 

29 Tháng Mười, 2006, 08:51:35 PM
Reply #7
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 718
  • Điểm bài viết: 44
  • I love you as mouse love rice ^_^
Huy Du

Họ và tên:
Nguyễn Huy Du
Ngày sinh: 01/12/1926
Quê quán: Nam Định
Nơi ở hiện nay: Hà Nội
Sáng tác chính:
ca khúc cách mạng, trữ tình   



Ông còn có bút danh là Huy Cầm, sinh ngày 01/12/1926, tại Liên Sơn, Bắc Ninh.

Từ nhỏ ông đã chơi đàn violon và thổi sáo trúc những giai điệu dân ca ngọt ngào của vùng Kinh Bắc. Lớn lên ra Hà Nội học, được tiếp xúc với âm nhạc phương Tây, nhưng ông vẫn mang hồn dân tộc.

Năm 1947 đến năm 1949, ông dạy nhạc ở trường Thiếu sinh quân liên khu III. Năm 1949 làm trưởng đoàn Văn công Bộ tư lệnh liên khu III. Năm 1951 làm trưởng đoàn Văn công Sư đoàn 320. Trong giai đoạn này ông đã cho ra đời những ca khúc: Ba Vì năm xưa, Sẽ về Thủ đô, Những gác chuông giáo đường, Tôi yêu hoà bình…

Từ năm 1956 đến 1962, Huy Du học tại Nhạc viện Bắc Kinh. Năm 1962 đến 1977, ông làm việc tại Đoàn ca múa Tổng cục Chính trị và bắt đầu từ đây khả năng sáng tạo của Huy Du nở rộ. Các ca khúc như Tình em (thơ Ngọc Sơn, 1962), Bế Văn Đàn sống mãi (thơ Trinh Đường, 1963), Tôi ca mãi đời anh (1964) đã lan toả sâu rộng trong công chúng.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc, ca khúc của Huy Du ngày càng nhiều và có sức cảm hoá lòng người bởi tính trữ tình mà hào hùng. Nhiều ca khúc mà âm hưởng của nó vẫn vọng mãi đến ngày nay như: Thề bảo vệ Tổ quốc, Anh vẫn hành quân (thơ Trần Hữu Thung), Bạch Long Vĩ đảo quê hương, Có chúng tôi trên hải đảo xa xôi, Chưa hết giặc ta chưa về, Cùng anh tiến quân trên đường dài (thơ Xuân Sách), Nổi lửa lên em (phỏng thơ Giang Nam), Đường chúng ta đi (lời thơ Xuân Sách), Trên đỉnh Trường Sơn ta hát, Đêm Trường Sơn…

Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Huy Du viết: Việt Nam ơi ta bước tiếp, Việt

Nam ơi! Mùa xuân đến rồi, Chiều không em (phỏng thơ Thuỵ Kha), Người mù hát tình ca (phỏng thơ Thế Hùng)…

Ngoài ca khúc, Huy Du còn viết khí nhạc mà nổi bật là tác phẩm Miền

Nam quê hương ta ơi cho violon và piano (1959), âm nhạc cho phim và sân khấu.

Là nhạc sĩ sáng tác nhưng ông vẫn đảm nhận nhiều cương vị công tác như: Trưởng đoàn ca múc Tổng cục Chính trị (1962 - 1977), Tổng thư ký Hội nhạc sĩ Việt Nam khoá III, Đại biểu Quốc hội khoá VII, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban văn hoá - giáo dục Quốc hội khoá VIII, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Trung.

Nhạc sĩ Huy Du đã xuất bản các tập ca khúc: Anh vẫn hành quân (NXB Văn hoá), Đường chúng ta đi (NXB Quân đội nhân dân), Khát vọng mùa xuân (NXB Âm nhạc), Tuyển chọn ca khúc (NXB Âm nhạc và Hội nhạc sĩ Việt Nam); Băng audio - cassette : Người mù hát tình ca (Audio Hồ Gươm), Chiều không em (DIHAVINA và Hội Nhạc sĩ Việt Nam).

Năm 2000, Huy Du được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật cho các tác phẩm: Bế Văn Đàn sống mãi, Đường chúng ta đi, Anh vẫn hành quân, Cùng anh tiến quân trên đường dài, Nổi lửa lên em.


 
 
TÁC PHẨM 

Cùng anh tiến quân trên đường dài 
Trên đỉnh Trường Sơn ta hát 
Sẽ về Thủ đô 
Bạch Long Vĩ đảo quê hương 
Đường chúng ta đi
Bế Văn Đàn sống mãi 
Tình em  Đường chúng ta đi 

 

29 Tháng Mười, 2006, 08:53:19 PM
Reply #8
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 718
  • Điểm bài viết: 44
  • I love you as mouse love rice ^_^
Linh Nga Niêk Đam

Họ và tên: Linh Nga Niêk Đam
Ngày sinh: 08/8/1948 
Nguyên quán:
Cư Mgar, Đak Lak



Từ tháng 12 - 1965 đến tháng 10 - 1966, là diễn viên Đoàn ca múa Tây Nguyên. Từ tháng 10 - 1966 đến năm 1970, học Trung cấp Thanh nhạc, Trường Âm nhạc Việt Nam. Sau đó, tiếp tục là diễn viên Đoàn ca múa Tây Nguyên. Năm 1976 - 1979, học Đại học Thanh nhạc (khoá đào tạo giáo viên) tại Nhạc viện Hà Nội. Từ năm 1979 đến tháng 8 - 1988 về công tác tại Sở Văn hoá - Thông tin Đak Lak, làm phó Trưởng Đoàn Ca Múa, rồi hiệu trưởng Trường Nghệ thuật. Năm 1985 - 1990, học Đại học Sáng tác, Nhạc viện Hà Nội. Hiện đang là biên tập viên chương trình âm nhạc Đài tiếng nói Việt Nam (cơ quan thường trú tại Đak Lak).

Nữ nhạc sĩ Linh Nga Niêk Đam có những tác phẩm đáng chú ý như: thanh xướng kịch Huyền thoại Drai H'linh (1990), độc tấu piano Khúc hát ru rừng trưa (1989), H'linh hát trên dòng Serêpok - đoạt giải khuyến khích của Hội Nhạc sĩ Việt Nam 1991. Bên cạnh đó, bà còn là tác giả kịch bản và đạo diễn phim ca nhạc Nhịp điệu Chiêng Ê Đê, Huy chương vàng, 1991 (Đài truyền hình Cần Thơ)…Linh Nga Niêk Đam còn là Hội viên Hội nhà văn và Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, là tác giả một số truyện ngắn.

Bà cũng còn là tác giả một số công trình biên khảo về phong tục tập quán các dân tộc Tây Nguyên: tài liệu Điền dã Tây Nguyên, Một số nét đặc trưng của phong tục các dân tộc Tây Nguyên (viết chung với Lâm Tâm, Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc, 1996).
 

29 Tháng Mười, 2006, 08:54:57 PM
Reply #9
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 718
  • Điểm bài viết: 44
  • I love you as mouse love rice ^_^
Lưu Hữu Phước

Họ và tên: Lưu Hữu Phước
Bút danh: Huỳnh Minh Siêng, Long Hưng, Anh Lưu, Hồng Chí
Ngày sinh: 12/9/1921
Ngày mất: 1989
Quê quán: Cần Thơ
Khen thưởng: Giải thưởng HCM về VHNT
Dòng nhạc: cách mạng


 


Ông có nhiều bút danh: Huỳnh Minh Siêng, Long Hưng, Anh Lưu, Hồng Chí, sinh ngày 12- 9- 1921 tại Cần Thơ, Hậu Giang, mất 1989.


Sinh ra và lớn lên trong cái nôi của âm nhạc đàn ca tài tử, chất giản dị, phóng khoáng đã ngấm vào Lưu Hữu Phước. Ngay năm 1936, ông đã viết được bản Giang sơn gấm vóc cho đàn nguyệt.


Mặc dù là sinh viên y khoa nhưng ông chọn sáng tác ca khúc để tác động, động viên mọi người kháng chiến kiến quốc. Có thể nói, Lưu Hữu Phước là con chim đầu đàn của giới nhạc sĩ Việt Nam về thể loại hành khúc .


Ca khúc đầu tiên Bạch Đằng giang (lời Mai Văn Bộ và Nguyễn Thành, 1940)là lời động viên, thức tỉnh giới trẻ nhìn vào lịch sử. Cũng trên dòng chảy này ông viết Tiếng gọi thanh niên (1941), Xếp bút nghiên (1944), Lên đàng (lời Huỳnh Văn Tiểng, 1944) là những sáng tác gắn chặt với không khí của những ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945.


Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, hai mảng đề tài: Lịch sử và thanh niên luôn được ông khai thác và đặc biệt, ca khúc của ông thường gắn với các sự kiện lịch sử quan trọng. Đó là ca khúc: Ca ngợi Hồ Chủ Tịch (cùng làm lời với Nguyễn Đình Thi, 1947), Tuổi hai mươi xuống đường, Giải phóng miền Nam (1961- lời Mai Văn Bộ và Huỳnh Văn Tiểng ), Bài ca giải phóng quân, Hành khúc giải phóng (viết cùng Hoàng Hiệp ), Tiến về Sài Gòn (1966), Tình Bác sáng đời ta (1969)...


Lưu Hữu Phước còn là tác giả của nhiều ca khúc thiếu nhi như Reo vang bình minh, Thiếu nhi thế giới liên hoan, hợp xướng Đông Nam (1948), nhạc cảnh Con thỏ ngọc (lời Mai Văn Bộ ), nhạc cho kịch múa Hái hoa dâng Bác (viết cùng Vĩnh Cát )...


Ngoài sáng tác, ông còn cho xuất bản cuốn Âm nhạc một vũ khí đấu tranh là tập hợp của những bài phê bình âm nhạc có giá trị.


Những tác phẩm đã xuất bản:3 Tuyển tập nhạc phẩm Lưu Hữu Phước, Nxb Âm nhạc và Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh;Tuyển chọn ca khúc Lưu Hữu Phước, Hội Nhạc sỹ và Nxb Âm nhạc; Album Lưu Hữu Phước, Dihavina.


Nhạc sỹ Lưu Hữu Phước từng giữ nhiều chức trách: Nguyên giáo sư, Viện trưởng Viện nghiên cứu Âm nhạc, Chủ tịch hội đồng âm nhạc Quốc gia, Bộ trưởng Bộ thông tin - tuyên truyền và văn hoá của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, nhưng có lẽ đọng hơn cả là các tác phẩm của ông ngày càng thấm dần vào người dân Việt Nam nhiều thế hệ.

Năm 1996, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

 
 
TÁC PHẨM

Lên đàng 
Bạch Đằng giang 
Tình Bác sáng đời ta 
Tiếng gọi thanh niên 
Xếp bút nghiên 

 

29 Tháng Mười, 2006, 08:56:39 PM
Reply #10
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 718
  • Điểm bài viết: 44
  • I love you as mouse love rice ^_^
Nguyễn An

Họ và tên: Nguyễn An
Năm sinh: 1930
Nguyên quán: Ninh Giang, Hải Dương
Nơi ở hiện nay: 128C Đại La, Hà Nội
Điện thoại:
Dòng nhạc: Cách mạng

 


Nguyễn An tham gia kháng chiến chống Pháp từ tháng 12 năm 1946 tại Huyện đoàn Thanh niên Ninh Giang. Năm 1949, hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp ở Đoàn tuyên truyền Văn nghệ thuộc Bộ Tư Lệnh Liên khu III, vừa chơi đàn vừa sáng tác.

Từ năm 1951, ông vào Đoàn Văn công Đại đoàn Đồng bằng và hoạt động ở vùng địch hậu Hà Nam Ninh, Thái Bình. Những bài hát đầu tiên của Nguyễn An: Về đồng bằng, Cô gái Sơn Tây, Dâng cờ được ra đời từ đó. Năm 1954, về Đoàn II Văn công Tổng cục Chính trị. Năm 1955, trở lại Đại đoàn Đồng Bằng, chuẩn bị tiếp quản Hải Phòng. Năm 1957, Đoàn Văn công Đồng bằng sát nhập với các đoàn khác thành Đoàn Văn công Hữu Ngạn. Năm 1959, ông về thành lập Đoàn Văn công lực lượng Công an Nhân dân Vũ trang, và năm 1971 ông chuyển về tham gia phụ trách Ban Biên tập Âm nhạc Đài tiếng nói Việt Nam, cho đến khi nghỉ hưu năm 1990.

Đã xuất bản: - Tập 5 bài hát Cô gái Sơn Tây (1952). - Tập 5 bài hát Đi theo tiếng gọi Bác Hồ (1973). - Tuyển tập 6 ca khúc (Nhà xuất bản Văn hoá, 1985). - Hợp xướng Tiếng gọi núi rừng (Nhà xuất bản Văn hoá, 1986). - Nhạc tuyển 12 bài hát và băng cassette do DIHAVINA và Hội Nhạc sĩ Việt Nam phát hành, 1996.

Ngoài ra còn viết nhạc cho Múa chư (dân gian Thái), Múa tây hẩy, Con ngựa bất kham, Tiếng sáo lạ, nhạc phim Giới tuyến, thơ giao hưởng Đường ra tiền tuyến, tứ tấu đàn dây, biến tấu khúc cho kèn clarinette và piano. Nguyễn An đã được giải thưởng của Hội Nhạc sĩ Việt Nam (1960, 1995) và của Tổng Cục Chính trị (1984).  Bên cạnh sáng tác ca khúc, Văn An còn viết nhạc không lời với các tác phẩm tiêu biểu như: Đường ra tiền tuyến, Biến tấu khúc (viết cho Clarinette và piano), Tứ tấu (viết cho dàn dây)...


 
 
TÁC PHẨM 

Dấu chân binh đoàn 
Em có nghe âm thanh ngày mới 
Giữ cho em tiếng hát chim rừng 

 

29 Tháng Mười, 2006, 08:58:12 PM
Reply #11
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 718
  • Điểm bài viết: 44
  • I love you as mouse love rice ^_^
Nguyễn Văn Tý

Họ và tên: Nguyễn Văn Tý
Ngày sinh: 05/3/1925
Nguyên quán: Vĩnh Phúc
Nơi ở hiện nay:
TP. Hồ Chí Minh
Sáng tác chính:
ca khúc cách mạng,
ca khúc trữ tình

 


Ông sinh ngày 05/3/1925 tại Vinh - Nghệ An, quê ở xã Phú Cường, huyện Kim Anh, tỉnh Vĩnh Phúc.

Năm 1944, ông đã từng đi hát trong các phòng trà ở Vinh. Năm 1945 là một trong những người sáng lập đoàn kịch thơ, kịch nói của thanh niên cứu quốc Nghệ An. Năm 1948 ông vào Đoàn văn hóa tiền tuyến thuộc Quân huấn cục. Năm 1949, ông sáng tác bài Dư âm là dấu nhấn để lại cho dòng ca khúc lãng mạn Việt Nam. Năm 1950, ông có nhiệm vụ đi xây dựng Đoàn văn công sư đoàn 304 và làm Trưởng đoàn, năm này ông sáng tác bài Mùa hoa nở, Pha máu luống cày.

Năm 1952, ông sáng tác bài hát Vượt trùng dương. Năm 1953 ông viết bài Tiếng hát Dôi a. Năm 1956 với bài Mẹ yêu con, ông khẳng định xu hướng đúng đắn: đưa tính dân tộc vào trong tác phẩm nghệ thuật. Năm 1962, ông được biệt phái về Hưng Yên. Trước thay đổi của những ngày đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Nguyễn Văn Tý cho ra đời nhiều bài hát: Chim hót trên đồng đay (1963); Dòng nước quê hương (1963); Tiễn anh lên đường (1964); Múa hát mừng chiến công (1966). Năm 1967, ông về công tác tại Hội nhạc sĩ Việt Nam và viết Bài ca năm tấn . Âm hưởng dân ca vẫn là âm hưởng chủ đạo trong ca khúc của ông. Nhiều bài hát ra đời đã có sức lan toả sâu rộng trong công chúng như Bài ca phụ nữ Việt Nam (1970), Em đi làm tín dụng (1971), Tấm áo chiến sỹ mẹ vá năm xưa (1973), Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh (1974), Người đi xây hồ Kẻ Gỗ (1976), Cô nuôi dạy trẻ (1980), Dáng đứng Bến Tre (1980). Nguyễn Văn Tý còn viết nhiều ca khúc cho thiếu nhi như Tôi là gà trống, Gà mái mơ... Ngoài sáng tác ca khúc, ông còn viết nhạc cho phim hoạt hình, múa rối và viết cho một số vở chèo Đảo nổi, Sông Hồng (1967), Nguyễn Viết Xuân (1968).

Các tác phẩm đã xuất bản: Những dư âm còn lại, video (VAFACO, 1993); Tuyển chọn ca khúc Nguyễn Văn Tý, NXB Âm nhạc, Hội nhạc sĩ Việt Nam 1995; Băng chân dung và tác phẩm của Đài truyền hình Việt Nam; Băng chân dung và tác phẩm của Đài truyền hình TP. Hồ Chí Minh.

Trong quá trình hoạt động nghệ thuật, ông đã đạt được một số giải thưởng: Giải nhì (không có giải nhất) của Hội văn nghệ Việt Nam cho bài Vượt trùng dương; Giải Nhất cuộc vận động sáng tác về đề tài phụ nữ, bài Tiễn anh lên đường (1964); Giải nhất sáng tác về đề tài nông nghiệp với ca khúc Bài ca năm tấn (1967); Giải Ngân hàng bài Em đi làm tín dụng.

Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật cho các tác phẩm: Mẹ yêu con, Vượt trùng dương, Bài ca năm tấn, Tấm áo chiến sỹ mẹ vá năm xưa, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh, Dáng đứng Bến Tre.


 
 
TÁC PHẨM 

Dư âm   
Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh 
Mẹ yêu con 
Tiễn anh lên đường 
Tấm áo mẹ vá năm xưa 
Dáng đứng Bến Tre 
Người đi xây hồ Kẻ Gỗ 
Dư âm 
Huyền diệu 

 

29 Tháng Mười, 2006, 08:59:49 PM
Reply #12
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 718
  • Điểm bài viết: 44
  • I love you as mouse love rice ^_^
Nguyễn Văn Thương

Họ và tên:Nguyễn Văn Thương
Ngày sinh: 22/5/1919
Ngày mất: 05/12/2002
Nguyên quán:
Thừa Thiên Huế
Sáng tác chính:
Khí nhạc, ca khúc
cách mạng, trữ tình 



Ông sinh ngày 22 tháng 5 năm 1919 tại Thừa Thiên- Huế. Là một trong những nhạc sĩ thế hệ đầu tiên của nền tân nhạc nước ta. 9 tuổi, ông học đàn nguyệt và tự học ký xướng âm qua sách Pháp. Năm 1936, tốt nghiệp Trung học Quốc học Huế, ông viết Trên sông Hương, cũng là một trong những tác phẩm tân nhạc đầu tiên ở Huế. Năm 1939 đi học ở Hà Nội, viết Đêm đông. Năm 1942 tại Sài Gòn, viết Bướm hoa. Sau đó, là một số tác phẩm giai đoạn kháng chiến chống Pháp: Bình Trị Thiên khói lửa, Bài ca trên núi, và sau giải phóng có ca khúc Thu Hà Nội, mùa thu tuyệt vời. Ông còn nổi tiếng trong lĩnh vực khí nhạc: Lý hoài nam (độc tấu sáo trúc), Buôn làng vào hội, Quê hương. Đặc biệt là những tác phẩm khí nhạc lớn sau khi đi tu nghiệp ở Cộng hoà dân chủ Đức về: Ngày hội non sông (độc tấu sáo trúc và bộ gõ), Rhapsodie số 2 cho đàn T'rưng và dàn nhạc giao hưởng, Trở về đất mẹ cho violoncelle và piano, đặc biệt là Thơ giao hưởng Đồng khởi.


Giáo sư - Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Văn Thương được coi như là một trong những nhạc sĩ tiên phong của âm nhạc cải cách (tân nhạc) ở Việt Nam với các ca khúc Trên sông Hương (1936), Đêm đông (1939)... Và chỉ cần 2 nhạc phẩm Đêm đông và Bình Trị Thiên khói lửa cũng đủ để tên tuổi của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sống mãi trong lòng những người yêu nhạc Việt Nam.

Trong kháng chiến chống Pháp, bằng tài năng và sự tự học hỏi của mình, Nguyễn Văn Thương là nhạc sĩ đã đóng góp công lao to lớn trong việc đào tạo nhiều thế hệ nhạc sĩ nổi tiếng cho đất nước khi chúng ta chưa có trường đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp, trong số đó có những người đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước như Nguyễn Văn Tý, Văn Ký, Hoàng Nguyễn, Lê Bích... Ông còn là nhà chỉ đạo nghệ thuật ca múa nhạc hàng đầu của Việt Nam. Trong thời kỳ chống Mỹ, Nguyễn Văn Thương từng là trưởng đoàn kiêm chỉ đạo nghệ thuật của hầu hết các đoàn nghệ thuật ca múa nhạc Việt Nam đi biểu diễn ở nước ngoài. Hòa bình lập lại, ông là một trong những nhạc sĩ đầu tiên soạn nhạc cho các điệu múa chuyên nghiệp như thơ múa Chim gâu, kịch múa Tấm Cám, Múa ô, Chàm rông... Không chỉ thành công với ca khúc, Nguyễn Văn Thương còn nổi tiếng với những tác phẩm khí nhạc lớn: Rhapsodie số 2, Trở về đất mẹ. Thơ giao hưởng Đồng Khởi từng trình diễn lần đầu tại Leipzig (Cộng hòa dân chủ Đức) năm 1971, Adagio Bên dòng sông Thương, ca khúc Thu Hà Nôi - mùa thu tuyệt vời... Có thể nói trong từng giai đoạn lịch sử, các tác phẩm của Nguyễn Văn Thương đều để lại ấn tượng khó quên cho người nghe.

Hiếm có người nhạc sĩ đa tài nào như Nguyễn Văn Thương. Trong suốt quá trình hoạt động nghệ thuật hơn 60 năm, ông vẫn giữ được phong độ sáng tác bền bỉ ở mọi lĩnh vực từ ca khúc cho đến các thể loại quy mô lớn. Với những công lao đóng góp cho nền âm nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương đã được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Ngày 5.12.2002, cây đại thụ của dòng nhạc tiền chiến đã mãi rời xa chúng ta. Ra đi ở tuổi 83, ông đã để lại cho đời một số lượng tác phẩm phong phú về thể loại, đa dạng về phong cách và ngôn ngữ.



 
 
TÁC PHẨM 

Bình Trị Thiên khói lửa 
Tổ quốc tôi chưa đẹp thế bao giờ 
Bướm hoa 
Đêm đông 

 

29 Tháng Mười, 2006, 09:01:06 PM
Reply #13
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 718
  • Điểm bài viết: 44
  • I love you as mouse love rice ^_^
Nguyễn Xuân Khoát

Họ và tên: Nguyễn Xuân Khoát
Ngày sinh: 11/02/1910
Năm mất: 1994
Quê quán: Hà Nội
Khen thưởng: Giải thưởng HCM về VHNT
Dòng nhạc: giao hưởng thính phòng, cách mạng   



Ông sinh ngày 11/02/1910, quê ở Hà Nội, mất năm 1964.

Ngay từ thuở thiếu thời, Nguyễn Xuân Khoát đã có khả năng về âm nhạc. Năm 1927 đến 1930, ông theo học tại Viễn Đông nhạc viện Pháp mở tại Hà Nội. Ông là người sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ như piano, violon, contrebasse. Những năm tiếp theo, Nguyễn Xuân Khoát lao vào nghiên cứu âm nhạc dân tộc. Năm 1938, ông viết bài hát Bình minh. Có thể coi đây như dấu son đánh dấu sự phát triển của tân nhạc Việt Nam.

Năm 1939, ông có bài Con cò đi ăn đêm, năm 1949 ông viết ca khúc Thằng Bờm. Năm 1942, ông tham gia nhóm Xuân thu nhã tập  và năm này ông viết bài Màu thời gian (thơ Đoàn Phú Tứ).

Sau cách mạng tháng Tám, ông là thành viên của Hội khuyến nhạc ở Hà Nội và là linh hồn của một số bản nhạc.

Năm 1946, Nguyễn Xuân Khoát viết bài Tiếng chuông nhà thờ. Năm 1948 có bài Uất hận, Hát mừng bộ đội chiến thắng . Năm 1954, khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc, ông có ngay bài Quanh Hồ Gươm, rồi Ta đã lớn. Tiếp đó, năm 1958 là bài  Hò kiến thiết . Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, ông viết nhiều bài hát mang tính động viên , thúc dục thanh niên lên đường ra tiền tuyến. Điển hình cho những ca khúc đó là: Tay súng sẵn sàng, tay búa vững vàng; Theo lời Bác gọi ( thơ Lê Kỳ Văn , 1967)....

Đề tài cho thiếu nhi cũng được ông quan tâm. Tính dí dỏm, hài hước vui tươi mang đậm màu sắc dân gian được ông đưa vào các ca khúc: Con voi ( 1939), Con có mày đi ăn đêm, Thằng Bờm, ông Giẳng ông Giăng, Một bài Đồng ca(1981).

Lĩnh vực khí nhạc là sở trưởng của Nguyễn Xuân Khoát. những tác phẩm của ông thường mang tính khúc triết như: Trống tràng thành viết cho piano dựa trên đề tài Chinh phụ ngâm,  Ông Gióng, Sơn Tinh - Thuỷ Tinh cho hoà tấu, Tiếng pháo giao thừa, Cúc - Trúc - Tùng - Mai cho bộ gõ dân tộc...


Nguyễn Xuân Khoát là nhạc sĩ có lòng bền bỉ, kiên trì giữ gìn bản sắc dân tộc trong âm nhạc. Ngoài sáng tác, ông còn có nhiều bài tiểu luận, nhiều bài viết đăng trên các báo và tạp chí với những chuyên khảo về: ca trù, tuồng, chèo truyền thống. Ông xứng đáng là cánh chim đầu đàn của lịch sử tân nhạc Việt Nam.

Nguyễn Xuân Khoát đã cho xuất bản nhiều tuyển tập ca khúc, nhiều sách chuyên khảo và Album video về tác giả.

Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật cho các tác phẩm: Tiếng chuông nhà thờ, Ta đã lớn, Ông Gióng, Sơn Tinh - Thủy Tinh.


 
 
TÁC PHẨM 

Tiếng chuông nhà thờ 
 

29 Tháng Mười, 2006, 09:03:52 PM
Reply #14
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 718
  • Điểm bài viết: 44
  • I love you as mouse love rice ^_^
Nguyễn Đức Toàn

Họ và tên:Nguyễn Đức Toàn
Ngày sinh: 10/3/1929
Nguyên quán: Hà Nội
Nơi ở hiện nay:
Đống Đa, Hà Nội
Sáng tác chính:
ca khúc cách mạng,
ca khúc trữ tình 



Ông sinh ngày 10/3/1929 tại Hà Nội, hiện nghỉ hưu ở quận Đống Đa, Hà Nội.

Xuất thân từ một gia đình có truyền thống nghệ thuật, điều đó phần nào cũng ảnh hưởng tốt đến con đường mà ông đã chọn. Lúc đầu hội họa là niềm say mê lớn nhất của ông. Chính vì thế, năm 1944, Nguyễn Đức Toàn theo học trường Cao đẳng Mỹ thuật.

Năm 1945, trong những ngày sục sôi của Cách mạng tháng Tám, theo tiếng gọi của Tổ Quốc, Nguyễn Đức Toàn cầm súng tham gia cướp chính quyền ở Hà Nội, và ông đã viết bài: Ca ngợi đời sống mới. Năm 1946, ông tham gia cướp chính quyền ở Hà Nội, và ông đã viết bài: Ca ngợi đời sống mới. Năm 1946, ông tham gia vào Đoàn kịch Sao Vàng, rồi sau đó tiếp tục lên đường đi kháng chiến. Kháng chiến tuy gian khổ nhưng Nguyễn Đức Toàn đã để lại nhiều ca khúc đáng nhớ: Tình Vệ quốc quân ((1949), Quê em (1948),  Lúa mới (1953)… Cũng trong thời gian này, ông làm phó Đoàn văn công Việt Bắc. Cái tài trong nghệ thuật của ông được bộc lộ rõ, ông vừa là diễn viên kịch, vừa minh họa, trình bày báo, vừa sáng tác âm nhạc. Ca khúc được viết trong thời kỳ này là: Chiều hậu phương, Lúa mới.

Hòa bình lập lại, ông về Đoàn ca múa Tổng cục Chính trị, vừa chỉ đạo đoàn, vừa tham gia tu nghiệp sáng tác âm nhạc. Hàng loạt sáng tác của Nguyễn Đức Toàn về các đề tài lần lượt ra đời: Biết ơn chị Võ Thị Sáu, Noi gương Lý Tự Trọng, Bài ca Ngô Mây, Nguyễn Văn Trỗi anh còn sống mãi, Nguyễn Viết Xuân cả nước yêu thương, Đào công sự, Bài ca người lái xe, Khâu áo gửi người chiến sĩ…

Năm 1968 đến năm 1970, Nguyễn Đức Toàn đi tu nghiệp ở nhạc viện Kiev (Ukraina). Ông viết nhiều khí nhạc, đã được dàn dựng ở nước ngoài như: Tổ khúc giao hưởng Tổ quốc, Sonate cho violon.

Về nước, bằng kiến thức âm nhạc hàn lâm kết hợp với vốn sống ông viết nhiều ca khúc, hợp xướng như: Bài ca xây dựng, Tiếng hát buổi bình minh, Bài ca chiến thắng…

Năm 1975, đất nước thống nhất, các tác phẩm của Nguyễn Đức Toàn lại chứa đựng tính trữ tình nhiều hơn. Nhiều bài hát của ông đã được công chúng trong và ngoài nước ghi nhận như: Từ ngày hôm ấy, Chiều trên bến cảng, Tình em biển cả, Mùa xuân đất nước …

Ca khúc của Nguyễn Đức Toàn được các ca sĩ có tiếng thể hiện trong nhiều năm nay. Ông đã xuất bản nhiều tuyển tập, album audio tác giả.


Nguyễn Đức Toàn mang quân hàm đại tá quân đội, hiện đã nghỉ hưu, ông là họa sĩ, nhạc sĩ, Nghệ sĩ Ưu tú. Ông được nhận Huân chương Độc lập hạng Ba. Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật cho tác phẩm: Quê em, Biết ơn chị Võ Thị Sáu, Đào công sự, Nguyễn Viết Xuân cả nước yêu thương, Tình em biển cả, Chiều trên bến cảng.



 
 
TÁC PHẨM 

Hà Nội trái tim hồng 
Hà Nội ơi! Một trái tim hồng 
Chiều trên bến cảng 
Mời anh đến thăm quê tôi 
Khâu áo gửi người chiến sĩ   
Chiều trên bến cảng 
Tình em biển cả   
Biết ơn chị Võ Thị Sáu
Câu chuyện tình yêu 
Ngập ngừng
Chuyện ngày xưa 
Ký ức Hà Nội 
Có gì đẹp hơn thế 
Bâng khuâng Hà Nội 
Biển muôn đời vẫn thế   
Kinh Bắc quê tôi   
Quê em 
Ôi mẹ Việt Nam yêu em đời đời
Tình em biển cả 
Đảng là cuộc sống của tôi