Please login or register.

Login with username, password and session length

Author Topic: Các ứng dụng của Vi Sinh Vật trong đời sống  (Read 48510 times)

26 Tháng Bảy, 2006, 01:12:25 PM
  • BTC KPTV
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 497
  • Điểm bài viết: 18
  • Kakakakaka
    • HAAC
INTERFERON (IFN) LÀ CÁI CHI CHI?

1. Lịch sử nghiên cứu:

- 1935, Findlay và Mac Callium khi nghiên cứu bệnh sốt vàng ở thung lũng Ritz đã nhận thấy: khỉ sau khi mắc virut gây sốt trước khi nhiễm virut sốt vàng sẽ không bị chết.
- 1957, Isaac và Linderman đã tìm ra Interferon.

2. Khái niệm:

IFN là những protêin, glicoprotêin có tác dụng miễn dịch hình thành trong TB khi bị nhiễm virut, axit nuclêic lạ polysaccarit hay sau sự kích thích cảm ứng.
Hiện tượng virut ôn hòa hay sự hình thành prophage có liên quan đến IFN (một số virut độc bị IFN ức chế trở thành dạng ôn hòa).

3. Đặc điểm và vai trò của IFN:

- Có bản chất là protêin, có khối lượng phân tử lớn.
- Bền vững trước nhiều loại enzim (trừ protêaza), chịu được pH, nhiệt độ cao (56 độ C vẫn giữ được hoạt tính).
- Đặc tính sinh học quan trọng của IFN là có tác dụng không đặc hiệu với virut nghĩa là có khả năng kìm hãm sự nhân lên của bất kì virut nào.
- Có tính đặc hiệu loài. VD: IFN do TB người sinh ra chỉ có tác dụng chống virut gây bệnh ở người. Nó làm tăng sức đề kháng của cơ thể bằng cách kích thích tăng số lượng của một loạt TB miễn dịch: đại thực bào, TB Lympho.


26 Tháng Bảy, 2006, 01:13:44 PM
Reply #1
  • BTC KPTV
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 497
  • Điểm bài viết: 18
  • Kakakakaka
    • HAAC
Vi khuẩn biến đổi gen có thể ngừa sâu răng vĩnh viễn


Hãy quẳng bàn chải đánh răng đi, chỉ một lần đến nha sĩ khi còn chập chững biết đi là tất cả những gì bạn cần để giữ cho răng khỏi bị sâu suốt đời. Nhưng có một điều bất tiện: Bạn phải chịu há miệng cho vi khuẩn được biến đổi gen xâm nhập vào.

Kế hoạch này bao gồm việc thay thế vi khuẩn ở khoang tự nhiên của miệng bằng vi khuẩn đã biến đổi gen dùng để ngăn ngừa sâu răng. Nhà Hillman thuộc đại học Floriđa ở Gainesville nói: "Mục đích của tôi là xây dựng - một phiên bản tốt của loài vi khuẩn có hại"

Vi khuẩn được biến đổi gen sẽ thay thế vi khuẩn có tên Streptococcusmutans, vi khuẩn xâm chiếm vùng miệng của hầu hết con người và gây ra khoảng 85% tất cả lỗ sâu răng. Nó hình thành các lỗ này bằng cách chuyển đwuờng thành axit lactic từ từ khắc sâu vào men răng.

Để tạo ra vi khuẩn biến đổi gen, Hillman khởi đầu tìm kiếm loại vi khuẩn không có khả năng tiết ra axit lactic, có thể tiêu diệt và thay thế hoàn toàn vi khuẩn S.mutans có hại. Sau khi thu thập những mẫu từ miệng của hàng trăm bệnh nhân vào đầu thập niên 80, ông tìm ra một chủng vi khuẩn có thể tiêu diệt S.mutans bằng cách tiết ra chất độc. Chất độc này cũng làm chết những loài vi khuẩn khác, nhưng vi khuẩn biến đổi gen của Hillman không tiêu diệt vi khuẩn có ích khác trong miệng hoặc trong dạ dày vì chất độc không đi xa hơn nơi được tạo ra.

Nhưng vi khuẩn này không hoàn hảo, nó vẫn tiết ra axit lactic và như vậy có thể tạo ra các lỗ hổng. Để tước bỏ vũ khí của nó, Hillman và các đồng sự loại bỏ gen lập mã lactate dehydrogenase, enzyme chuyển đổi đường thành axit lactic. Họ gọi chủng mới này là BCS3-L1

BCS3-L1 có thể được phết hoặc phun lên răng, bằng một công thức mà Hillman cho biết có mùi vị giống như súp gà. Khi được phết lên răng chuột, BCS3-L1 làm giảm đáng kể các lỗ hổng.

Hillma và công thi OraGen of Alachua, Florida của ông vẫn chưa được phép của FDA (Cơ quan quản lý thực phẩm về dược phẩm Hoa kì) để kiểm tra phương pháp điều trị ở con người. Nhưng có ba người tình nguyện cho dùng chủng bố mẹ của BCS3-L1 phết lên răng người bạn đời hoặc con cái của họ, kết quả cho thấy vi khuẩn này không thể lây lan qua đường hôn. <-- bó tay

Các nhà nghiên cứu khác đang nghiên cứu một loại vacxin chống vi khuẩn hình thành lỗ hổng. Nhưng Hillman cho biết, so với hệ miễn dịch con người thì việc tìm tòi nghiên cứu vi khuẩn dễ dàng hơn nhiều.

Thật lý tưởng khi BCS3-L1 sẽ được phết lên răng trẻ vào khoảng 2 tuổi trước khi trẻ có nguy cơ nhiễm phải S.mutans do ăn uống chung với người khác. Hillman ước tính phương pháp điều trị này tốn khoảng 100 đô la cho một trẻ và mất hết 5 phút


26 Tháng Bảy, 2006, 01:20:31 PM
Reply #2
  • BTC KPTV
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 497
  • Điểm bài viết: 18
  • Kakakakaka
    • HAAC
CÔNG NGHỆ VI SINH TRONG SẢN XUẤT CHẾ PHẨM SINH HỌC BZT


1. Giải thích về vi khuẩn: Quá trình ổn định vi khuẩn làm việc như thế nào ?

Vi khuẩn sinh sản bởi một quá trình gọi là nhân đôi - tế bào mới sinh ra bằng cách chia đôi từ tế bào mẹ. Một số có thể sinh sản rất nhanh ở những điều kiện thích hợp. Nếu có thực phẩm, độ ẩm thích hợp ở đúng nhiệt vi sinh có thể bắt đầu sinh sản trong vòng chưa đến hai mươi phút, chỉ trong tám giờ một tế bào ban đầu có thể nhân lên thành 17 triệu vi khuẩn mới.

Vi khuẩn chọn lọc, được nuôi cấy trong một môi chất. Dưới sự giám sát, vi khuẩn sau khi thanh lọc được chuyển qua một bồn lên men sinh học 250 lít sinh trưởng trong vòng 20 giờ.

Sau khi kiểm tra chất lượng về độ thuần khiết, vi khuẩn được đưa sang bồn lên men kín vô trùng có dung tích 5.000 lít để bắt đầu giai đoạn sản xuất. Dưới điều kiện pH thích hợp, dung dịch đường vô trùng và ôxy được đưa vào để nuôi vi khuẩn. Trong suốt quá trình này, sản phẩm được lấy mẫu để theo dõi sự vô trùng và các thông số tăng trưởng.

Trong vòng 24 giờ, sẽ thu hoạch vi khuẩn và cô đặc bằng một máy ly tâm cực nhẹ. Vi khuẩn cô đặc được bọc lại bằng chất keo betaglucan bởi một qui trình đã được cấp bằng sáng chế. Qui trình này giúp vi khuẩn chống lại độ ẩm để duy trì sự sống trong thời gian bảo quản hoặc trộn với chất mang.

Sau đó sản phẩm được làm lạnh nhanh trong hệ thống lạnh lỏng trước khi đưa vào sấy ở nhiệt độ ở âm 40oC trong hệ thống phòng lạnh lớn. Qui trình sấy lạnh hai bước này, trong điều kiện độ ẩm dưới 5%, bảo đảm tỷ lệ sống sót của vi khuẩn cao và sẵn sàng cho giai đoạn cuôí là kiểm tra để đảm bảo các dòng vi khuẩn không nhiễm khuẩn salmonella.


26 Tháng Bảy, 2006, 01:21:09 PM
Reply #3
  • BTC KPTV
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 497
  • Điểm bài viết: 18
  • Kakakakaka
    • HAAC
2. Giải thích về Enzym: Enzym là gì và Enzym hoạt động như thế nào

Enzym là những protein, được sản xuất tự nhiên từ thực vật, động vật, vi khuẩn, nấm và các sinh vật khác, hết sức cần thiết cho sự sống. Chúng là những chất xúc tác thúc đẩy tốc độ các phản ứng hoá học mà không làm thay đổi tính chất của chúng. Các loại enzym trên thị trường được trích ra từ vi khuẩn hay nấm như các loại: Bacillus, Aspergillus và Trichoderma.

Enzym làm việc bằng cách cắt các hợp chất phức hợp (hợp chất nền) thành những hợp chất đơn, dễ dàng cho vi khuẩn sử dụng như là chất dinh dưỡng của chúng. Enzym từ những nguồn khác nhau làm việc có hiệu qủa tối ưu ở một nhiệt độ và độ pH cụ thể. Đây là điều cần xem xét cẩn thận khi chọn một sản phẩm enzym. Enzym được phân loại theo những hợp chất (chất nền) mà chúng hoạt động. Ví dụ, proteases phân hủy proteins, cắt chúng thành amino acids và peptides. Cellulases cắt cellulose, thành phần chính không thể tiêu hoá được có nhiều trong thành tế bào thực vật , thành đường đơn. Chỉ cần một lượng rất nhỏ để phân hủy một lượng lớn chất nền, tỷ lệ giữa enzym và chất nền là từ 1/1.000 đến 1/1.000.000.

Enzym có ổn định không
Để làm việc có hiệu quả, enzym cần phải chiụ được sự bả? quản, axít và sự phân giải protein. Enzym của UTI được sản xuất từ những dòng vi khuẩn và công nghệ tối ưu, sau đó được làm ổn định bằng một công nghệ đã được cấp bằng sáng chế. Khi trộn với vi khuẩn, hoạt động của chúng không bị ảnh hưởng do bảo quản kéo dài hay các hợp chất ôxy hoá như vitamin, khoáng chất và các điều kiện dễ phân hủy khác.

Làm sao so sánh được các enzym khác nhau
Với rất nhiều sản phẩm enzym hiện có trên thị trường, vấn đề so sánh chính xác chất lượng của những sản phẩm này là rất quan trọng. Nhưng thật không may, hiện chưa có một phương pháp thử nghiệm hoặc giải thích chuẩn hoá hoạt động của enzym. Và mỗi nhà sản xuất có một cách thử nghiệm riêng nên rất khó so sánh trực tiếp các sản phẩm với nhau. Một số sản phẩm liệt kê một số lớn các enzym trên nhãn làm cho nó có vẻ có nồng độ cao, nhưng nên nhớ rằng số lượng chỉ là tương đối trên một đơn vị thí nghiệm hay hoạt động. Cách tốt nhất là thử nghiệm đồng thời các sản phẩm tương tự trong một phòng thí nghiệm và cùng phương pháp thí nghiệm. Một quy trình độc đáo nữa của UTI là sử dụng enzym thuần chất trong sản phẩm của nó và điều đó làm cho nó mạnh gần 10 lần so với các sản phẩm enzym khác.


26 Tháng Bảy, 2006, 01:22:25 PM
Reply #4
  • BTC KPTV
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 497
  • Điểm bài viết: 18
  • Kakakakaka
    • HAAC
3.Tại sao chế phẩm BZT lại ở dạng bột ?
 
Trước đây, các sản phẩm sinh học thường có dưới hai dạng: lỏng và bột. Điều quan trọng cần nhớ rằng sản phẩm sinh học là các cơ thể sống. Khi vi khuẩn ăn và sinh sản trong những điều kiện không giống như trong phòng thí nghiệm (nhiệt độ, pH, nguồn thực phẩm cụ thể), các thế hệ sau càng trở nên ít hiệu qủa hơn. Hầu hết các nhà sản xuất thường thêm một nguồn thực phẩm vào sản phẩm dù ở dạng lỏng hay bột. Nguồn thực phẩm chính cho vi khuẩn thường là một loại ngũ cốc nào đó. Vì vi khuẩn tiêu hóa và sinh sản trong những điều kiện không phải là phòng thí nghiệm, hiệu qủa của sản phẩm giảm đi nhanh chóng. Khi sản phẩm đến tay người sử dụng, họ chẳng có một sự bảo đảm nào về hiệu qủa của sản phẩm đó. Hơn nưã thời gian bảo quản của những sản phẩm này thường rất ngắn.
UTI sử dụng quy trình ?bọc? vi khuẩn được cấp bằng phát minh như đã nói ở trên trong tất cả các loại sản phẩm. Vi khuẩn không chết mà cũng không sống, chúng bị làm cho ngừng hoạt động. Khi trộn với nước, lớp bảo vệ đó sẽ bị hoà tan và người sử dụng có thể tin chắc rằng thế hệ vi khuẩn đầu tiên với nồng độ cao đã sẵn sàng làm việc. Quy trình tạo vi bào tử này làm cho sản phẩm của chúng tôi có thời hạn sử dụng tối thiểu là 2 năm.

26 Tháng Bảy, 2006, 01:22:58 PM
Reply #5
  • BTC KPTV
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 497
  • Điểm bài viết: 18
  • Kakakakaka
    • HAAC
4. TẠI SAO PHẢI PHỐI HỢP VI KHUẨN VỚI ENZYME ?
 
Trước đây, sản phẩm sinh học thường là thuần vi khuẩn, hoặc thuần enzym hay vi khuẩn tạo ra enzym.
Những nghiên cứu vi sinh học thấy rằng tất cả vi khuẩn đều tạo ra một enzym cụ thể để tiêu hoá thức ăn của chúng trong thiên nhiên. Enzym cắt nguồn thức ăn thành một chất mà vi khuẩn có thể ăn được. Nếu sử dụng sản phẩm thuần vi khuẩn hay vi khuẩn chỉ để tạo ra enzym (nên nhớ rằng mọi vi khuẩn đều tạo ra enzym), bạn đang dựa vào vi khuẩn để tạo ra enzym bạn cần, và đó chỉ mới là một phần công việc mà bạn mong muốn vi khuẩn thực hiện. Thật không may, đa số các sản phẩm đều không ổn định, và bạn phải dùng những dòng vi khuẩn kém hiệu qủa thực hiện những công việc mà chúng không thực hiện được. Với sản phẩm thuần enzym không thôi, bạn chưa hoàn thành công việc mong muốn, nó đơn giản chỉ chuyển các nguồn thực phẩm thành các hình thức đơn giản hơn chứ không tiêu hoá chúng. Sản phẩm chỉ có enzym không thôi chỉ đẩy vấn đề trong nước thải xuống thấp và sẽ làm cho vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn sau đó.
Bằng sự phối hợp những dòng vi khuẩn thích hợp với những enzym cần thiết, UTI đã có một công thức sản phẩm có tác dụng tức thời. Sự tiêu hóa nhanh chóng làm cho những dòng vi khuẩn này bám vào nguồn thực phẩm và ăn cho đến khi không còn thức ăn nữa. Nguồn thực phẩm ở đây chính là nước thải mà bạn cần xử lý.
Thực tế đã cho thấy rằng các sản phẩm của UTI vượt trội hơn bất kỳ sản phẩm nào khác. Khách hàng nói rằng với sản phẩm của UTI họ sẽ chẳng bao giờ dùng các sản phẩm khác.

19 Tháng Tám, 2006, 10:32:42 AM
Reply #6
  • Mod box Sinh học - Thành viên box Sinh
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 177
  • Điểm bài viết: 2
  • Today...!
Vi khuẩn chuyên ăn dầu



Vi khuẩn Alcanivorax Borkumensis (Ảnh: genetik.uni-bielefeld)

Alcanivorax Borkumensis là tên một loài vi khuẩn chuyên sống trong những vùng nước bị nhiễm dầu. Sinh vật biển nhỏ bé này hầu như không được tìm thấy trong các vùng nước sạch, nhưng lại có mặt ở dòng thủy triều đen nhỏ nhất. Việc trao đổi của nó dựa vào các hydrocarbon là nguồn cung cấp duy nhất carbon và năng lượng.



Mô hình một nhiễm sắc thể của vi khuẩn Alcanivorax Borkumensis
(Ảnh: nouvelobs)

Một nhóm các nhà nghiên cứu châu Âu vừa giải mã gien của con vi khuẩn có khả năng phân hủy dầu này. Họ cũng đã nhận dạng những gien tạo nhiều thuận lợi cho đặc tính này hơn so với các loài vi khuẩn phân hủy dầu khác.

Alcanivorax Borkumensis có thể tăng sinh một cách hiệu quả và hầu như chỉ sinh sống nhờ hydrocarbon trong dầu thô. Nó có thể phân hủy một lượng lớn hydrocarbon. Loài vi khuẩn này sản sinh những chất hoạt hóa bề mặt (surfactant) sinh học góp phần chuyển chất dầu sang trạng thái nhũ tương và tăng tốc quá trình phân hủy.

Các dữ liệu trong bộ gien và việc phân tích chức năng cung cấp cho các nhà khoa học một cơ sở kiến thức với giá trị vô giá nhằm tìm cách giảm những thiệt hại về môi trường do nạn tràn dầu ở biển.

Mỗi năm có hàng triệu tấn dầu tràn ở các đại dương. Một phần nhỏ do bị ngấm bởi các mỏ dầu thiên nhiên nhưng phần lớn do con người. Một trong các sự kiện ô nhiễm nguy kịch nhất trong mấy năm gần đây là thủy triều đen do một tàu chở dầu lớn bị đắm ngoài khơi bờ biển Galicie thuộc Tây Ban Nha, làm tràn khoảng 17.000 tấn nhiên liệu nặng.


19 Tháng Tám, 2006, 10:39:41 AM
Reply #7
  • Mod box Sinh học - Thành viên box Sinh
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 177
  • Điểm bài viết: 2
  • Today...!
 
Vi khuẩn biến đất thành vàng

 
(Ảnh: genome.jgi-psf.org)
 
Tạp chí Science (Mỹ) số ra hôm qua đăng tải báo cáo của các nhà khoa học Úc về sự phát hiện một loại vi khuẩn có thể biến đất thành vàng, tên khoa học là Ralstonia metallidurans.

Nhóm nhà khoa học do tiến sĩ F.Reith dẫn đầu thu được những hạt vàng có kích thước 0,1 - 2,5 mm nằm rải rác tại 2 mỏ vàng ở Úc và phát hiện có dấu vết của vi khuẩn trên ở 80% số vàng thu thập. Từ đó, họ cho rằng vi khuẩn Ralstonia metallidurans có công dụng như các máy lọc đất siêu nhỏ, hấp thu kim loại nặng ở trạng thái hòa tan và chuyển chúng sang dạng cứng và ít độc hại hơn.

Đây quả là điều kỳ diệu vì thông thường kim loại nặng không những độc hại đối với con người mà còn ảnh hưởng đến các vi sinh vật. Tuy nhiên, các nhà khoa học nhấn mạnh rằng không phải đổ đầy vi khuẩn Ralstonia metallidurans ở vườn nhà thì bạn thu hoạch ngay được vàng. Ông Reith cho biết: "Điều quan trọng là phải có vàng trong đất trước đã".



 
 

20 Tháng Mười Một, 2006, 06:26:13 PM
Reply #8
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 195
  • Điểm bài viết: 6
    • vungtroizero's blog
hik, em có 1 bài tập về nhà thế này: Trong nx năm gần đây, Việt Nam đã đạt được nx thành tựu chọn giống vi sinh vật nào, nêu cụ tỷ ra.

đại loại vậy, vào google tìm, chóng cả mặt, mà cũng chẳng hiểu j, bác nào giúp em với :((

28 Tháng Mười Một, 2006, 05:33:49 PM
Reply #9
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 195
  • Điểm bài viết: 6
    • vungtroizero's blog
thôi, cảm ơn, tớ nộp bài rồi :)

nhờ cak đây 8 ngày :(

29 Tháng Mười Một, 2006, 03:47:29 PM
Reply #10
  • Trưởng ban Ngoại Giao
  • Mod trưởng
  • ****
  • Posts: 2910
  • Điểm bài viết: 70
  • Ban thanh thiếu niên (VTV6)
    • Trần Quang Sơn
Ơ sao lúc em nhờ anh lại không thấy nhỉ.
Nếu anh đọc thấy thì anh cũng đi tìm hiểu cùng với em rồi.

30 Tháng Mười Một, 2006, 04:59:09 PM
Reply #11
  • Mod box Sinh học - Thành viên box Sinh
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 177
  • Điểm bài viết: 2
  • Today...!
Quote
thôi, cảm ơn, tớ nộp bài rồi 

nhờ cak đây 8 ngày



Thành thật xin lỗi cậu !Tại thời gian này tớ không lên mạng nên không đọc câu hỏi của cậu được !Mà cậu nộp bài kết quả thế nào vậy ?Nếu cậu có sở thích môn Sinh đặc biết là cái fần Vi sinh vật nì thì tớ rất vui được ghi danh cậu trong box này !Ok chứ ?!:D

04 Tháng Mười Hai, 2006, 11:53:22 PM
Reply #12
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 195
  • Điểm bài viết: 6
    • vungtroizero's blog
tớ đã từng thik sinh, nhưng nghề nghiệp liên quan đến sinh học thì chả gây cho tớ tý hứng thú nào >> không để ý nữa :)

chà, biết nói sao về kết quả bài tập của tớ nhỉ :(

10 Tháng Mười Hai, 2006, 09:59:21 AM
Reply #13
  • Mod box Sinh học - Thành viên box Sinh
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 177
  • Điểm bài viết: 2
  • Today...!
SINH VẬT BIỂN PHÁT SÁNG

Khả năng phát sáng của sinh vật biển đã được con người phát hiện, nghiên cứu cách đây gần 80 năm, và đã được triển khai ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Kết quả nghiên cứu sinh vật biển phát sáng ở vịnh Nha Trang do Viện Hải dương học Nha Trang thực hiện trong 2 năm (2004-2005), bước đầu đã phát hiện được 18 loài, cho thấy tiềm năng to lớn của nguồn lợi này ở nước ta.

Sự tình cờ có giá trị

 
Năm 1927, trong lúc dạo bộ trên bờ biển ở vịnh Torbay (Anh), ông Phillips tình cờ đã phát hiện những con hải quỳ trong các vũng nước triều đọng lại phát ra ánh sáng xanh khi được rọi đèn pin đã được lọc bỏ các ánh sáng nhìn thấy (chỉ truyền ánh sáng cực tím - UV). Ông bắt đầu nghiên cứu và đã trở thành học giả đầu tiên công bố các kết quả về hiện tượng lý thú này... Đến những năm 30 của thế kỷ XX, ông Kawaguit, người Nhật đã chú ý đến các sắc tố phát sáng của san hô khi bị kích hoạt  bởi ánh sáng UV. Những năm 40, vợ chồng ông Catala đã nuôi thí nghiệm một số loài sinh vật biển có khả năng phát sáng khi bị chiếu ánh sáng UV trong phòng tối. Các kết quả thu được hết sức khả quan. Sự phát sáng của sinh vật biển trong phòng tối do bị kích thích bởi ánh sánh UV đã tạo ra thế giới màu sắc huyền ảo, vô cùng hấp dẫn. Ông bà Catala  đã sáng lập ra Bảo tàng sinh vật biển Noumea (New Calodenia Nam Thái Bình Dương). Bảo tàng này đã nổi danh thế giới với hệ thống trưng bày “Sinh vật biển phát sáng”, huyền ảo và hấp dẫn du khách.

Các loài sinh vật biển phát sáng và phát quang

Cho đến nay, đã phát hiện hơn 507 loài sinh vật biển có khả năng phát sáng khi bị kích hoạt bởi các nguồn sáng. Trong đó, phần lớn là các loài san hô, rồi đến loài chân bụng (có hơn 200 loài), chủ yếu là Trochidae, Bullidae, Cypraeidae, Triviidae, Haliodae, Fissurellidae, nhóm chân đầu như mực Tuộc, Nang, Ống..., nhóm động vật thể xoang... 

Khác với phát quang sinh học, là đặc tính tự nhiên của một số loài thủy sinh có kích thước nhỏ (từ micromét đến vài centimét), có bản chất liên quan đến các phản ứng sinh hóa lý của chúng, một số loài sinh vật biển có khả năng đặc biệt là phản xạ, phát ra ánh sáng nhìn thấy (bước sóng 450-600 nm) khi bị kích hoạt bởi các nguồn sáng không nhìn thấy (có bước sóng nhỏ hơn 450 - nguồn UV hay lớn hơn 600 nm - nguồn hồng ngoại) chiếu vào.

Bước đầu nghiên cứu, Viện Hải dương học Nha Trang đã phát hiện được 18 loài sinh vật ở vịnh Nha Trang có khả năng phát sáng và Viện cũng đã nuôi thử nghiệm thành công 4 loài san hô, phục vụ cho các triển khai ứng dụng ở Việt Nam.

Hiện nay, khoa học hải dương đã xác định và lựa chọn khoảng 10 loài thuộc nhóm san hô, thủy tức, hải quỳ... có khả năng phát sáng rất mạnh, ổn định.

Cấu trúc protein - Bản chất của quá trình phát sáng

Vì sao một số loài sinh vật biển lại có khả năng phát sáng khi bị kích hoạt bởi các nguồn sáng khác chiếu vào, đặc biệt là nguồn UV?

Theo các nhà khoa học, hiện tượng phát sáng của các loài thủy sinh khi bị kích hoạt bởi các nguồn sáng UV này phụ thuộc vào cấu trúc của các protein. Chính vì các protein của các vi sinh vật biển khác nhau, đặc điểm thích ứng, chịu được tác động của các sóng ánh sáng khác nhau đã tạo ra khả năng phát sáng của chúng. Có một số loài sinh vật hay một số cấu trúc sinh học bị hủy hoại dưới tác dụng của ánh sáng UV. Trái lại, có những loài hay bộ phận sinh học khác lại bền vững, không bị phá hủy dưới tác dụng của ánh sáng UV. Dựa vào các kết quả nghiên cứu về sự thay đổi của cấu trúc các protein do tác động của các nguồn sáng, các chuyên gia Nhật Bản đã giải thích vì sao phần lớn các loài san hô ở vùng biển nông có khả năng phát sáng khi bị nguồn UV chiếu  vào. San hô đã có quá trình tiến hóa hàng ngàn hoặc triệu năm trong các vùng biển nhiệt đới. Để thích nghi, các sắc tố của san hô có khả năng sàng lọc các loại ánh sáng mặt trời, hấp thụ ánh sáng UV độc hại, chuyển hóa, phát ra các ánh sáng nhìn thấy được (bước sóng 450-600 nm) ít độc hại hơn.

Ở nước biển, khi bị khuấy động do các chuyển động của tàu bè, sự vận động bơi lội... vào ban đêm, chúng ta thấy xuất hiện các vệt sáng phát ra. Đó chính là hiện tượng phát quang sinh học của một số loài đơn bào thuộc Dinoflagellates. Phần lớn hiện tượng phát quang sinh học do sự “cọ xát cơ học” thường xảy ra trên tầng mặt và tầng sát mặt - trong khoảng trên dưới chục mét. Ngoài ra, khoa học hải dương cũng đã  phát hiện được một số loài sinh vật sống ở những tầng sâu hơn 200 - 1.000 m, thậm chí đến 4.000 m có khả năng phát quang. Đó là các loài cá, giáp xác, có kích thước nhỏ, chỉ khoảng vài centimet. Phát sáng sinh học là một trong những đặc trưng thích nghi của chúng trong quá trình tiến hóa. Phát sáng có thể là công cụ kiếm mồi, là công cụ chống trả kẻ thù, là phản ứng “tự vệ” do điều kiện môi trường thay đổi mạnh… Đấy là những đặc trưng mang tính bản chất của các phản ứng sinh hóa, đặc trưng của một số loài thủy sinh.

Hiện tượng phát sáng của một số loài sinh vật biển khác (sinh vật biển phát sáng) như san hô, hải quỳ... chỉ xuất hiện khi bị kích hoạt bởi các nguồn sáng, chủ yếu là ánh sáng UV. Nhóm này không có khả năng phát sáng khi bị thay đổi các trạng thái sinh lý hay cọ xát cơ học.

Những ứng dụng của sinh vật biển phát sáng

 
Hiện tượng phát sáng của sinh vật biển khi bị kích hoạt bởi các nguồn sáng không nhìn thấy, đang được nghiên cứu ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như:

- Phân loại sinh học biển, đặc biệt là phân loại các loài san hô.

- Nghiên cứu lịch sử tiến hóa và quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu trong quá khứ, dự báo cho tương lai.

- Nghiên cứu phục vụ cho việc đánh giá, xác định chất lượng môi trường nước, môi trường trầm tích, môi trường sinh học. Đặc biệt là trong nghiên cứu để tạo ra các loài vi sinh chỉ thị độc chất môi trường.

- Nghiên cứu các cấu trúc phân tử sống, đặc trưng cho thế giới sinh vật, phục vụ việc xác định nguyên nhân, diễn biến và ngăn ngừa, điều trị các bệnh hiểm nghèo trong y học.

- Khai thác phục vụ kinh doanh, giải trí trong các hệ thống bảo tàng sinh học và hải dương học. 

Người ta đã sử dụng công nghệ biến đổi gen để tạo ra nhiều sản phẩm độc đáo như cá phát sáng (Trân Châu đêm), vi sinh vật biến đổi cường độ chiếu sáng khi tiếp xúc với các vi sinh vật gây hại hoặc hóa chất độc gây ung thư… Đó là những “đầu dò” thuộc thế hệ mới trong các thiệt bị cảnh báo môi trường, cảnh báo bệnh tật…

Sinh vật biển phát sáng rất phong phú ở vùng biển Việt Nam. Đó là nguồn lợi quý giá, cần nghiên cứu một cách toàn diện, đồng bộ để khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn lợi đặc biệt này.
« Last Edit: 11 Tháng Mười Hai, 2006, 05:54:27 PM by kaluza »

19 Tháng Ba, 2009, 05:29:23 PM
Reply #14
  • Thành viên mới
  • *
  • Posts: 1
  • Điểm bài viết: 0
chi chi vậy sao không up lên một bài đồ án đầy đủ để mọi người tham khảo chứ