Please login or register.

Login with username, password and session length

Author Topic: Các Thành Phố Trên Thế Giới  (Read 37252 times)

25 Tháng Bảy, 2006, 05:02:37 PM
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 454
  • Điểm bài viết: 6

1.Brussels - Bỉ
2.Roma - Ý
3.Vienna - Áo
4.Geneve - Thụy sĩ
5.Paris - Pháp
6.Bern - Thụy sĩ
7.Mexico City - Mexico
8.Stockholm - Thụy Điển
9.Côn Minh - Trung Quốc
10.Los Angeles - Mĩ
11.Cairo - Ai Cập
12.Thượng Hải - Trung Quốc
13.Budapest - Hungaria
14.Prague - Séc


15.Almaty - Kazakhstan
16.Tunis - Tunisia
17.Tô Châu - Trung Quốc
18.Moscow - Nga
19.Manchester - Anh
20.Montreal - Canada
21.Quế Lâm - Trung Quốc
22.Odessa - Ukraine
23.Istanbul - Thổ Nhĩ Kì
24.Bangkok - Thái Lan
25.Brazilia - Brazil
26.Bắc Kinh - Trung Quốc
27.Las Vegas - Mĩ
28.Turin - Ý
29.Karachi - Pakistan


30.Phnom Penh - Cambodia
31.Seoul - Hàn Quốc
32.Seatle - Mĩ
33.San Francisco - Mĩ
34.Osaka - Nhật
35.Saint Petersburg - Nga
36.Madrid - Tây Ban Nha
37.Dubai - UAE
38.Sevilla - Tây Ban Nha
39.Venice - Ý
40.Florence - Ý
41.Vatican City - Vatican
42.Verona - Ý
43.Putrajaya - Malaysia
44.Athens - Hy Lạp



45.Quảng Châu - Trung Quốc
« Last Edit: 19 Tháng Tám, 2006, 11:04:29 PM by anacodam »

25 Tháng Bảy, 2006, 05:03:15 PM
Reply #1
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 454
  • Điểm bài viết: 6
Thú vị thủ đô Brussels - Bỉ

Chỉ mất 1 giờ 45 phút, chiếc tàu đẹp đẽ màu đỏ rực đã nuốt gọn đoạn đường dài hơn 300 km đến Gare Midi của Brussels, thủ đô Vương quốc Bỉ. Và chỉ mất hơn 5 phút đáp chuyến tàu chuyển tiếp, du khách đã đặt chân xuống Gare Central nằm ngay trung tâm thành phố.



Châu Âu vào cuối thu đêm dài ngày ngắn nên gần 8 giờ sáng mà thành phố dường như vẫn còn chưa hoàn toàn tỉnh giấc. Những giọt mưa thu rơi tí tách mang đến cái lạnh cắt da. Tạt vào một cửa hiệu nhỏ ấm áp mùi bánh nướng và hương cà phê thơm ngát, du khách vừa khoan khoái thưởng thức bữa điểm tâm vừa ngắm nhìn những dòng xe nối đuôi lướt qua, đưa các cư dân của thành phố được mệnh danh là "Thủ đô châu Âu" đến nhiệm sở.

Vương quốc Bỉ cũng chính là quê hương của nhà văn - họa sĩ Hergé - người đã sáng tạo ra nhân vật Tintin với những chuyến phiêu lưu được độc giả từ trẻ đến già trên cả thế giới yêu thích. Chẳng thế mà Tổng thống Charles De Gaulle của Pháp trước đây từng thừa nhận anh chàng phóng viên Tintin ấy còn... nổi tiếng hơn cả ông.

Ngay trước nhà ga trung tâm lúc nào cũng có các cô gái lui tới chào mời du khách đi “Golden tour” một vòng thành phố, với giá 16 euro (trên 300.000 đồng) có giá trị trong ngày và có thể lên xuống bất cứ điểm tham quan nào. Chiếc xe buýt hai tầng trang bị ống nghe cá nhân, với 6 ngôn ngữ khác nhau, giới thiệu sơ lược với du khách những công trình nổi tiếng của thủ đô Brussels như Quảng trường Lớn, Bảo tàng Nghệ thuật, Khu phố cổ Nghị viện châu Âu, Bảo tàng Quân đội và Hàng không, Công viên thành phố... Chuyến cưỡi ngựa (sắt) xem hoa này giúp cho du khách có được một cái nhìn toàn cảnh trong bước đầu làm quen với Brussels quyến rũ.

Gare du Nord 6 giờ sáng nhộn nhịp hành khách chuẩn bị lên những chiếc tàu nhanh mà chỉ 30 phút nữa thôi đã nhanh chóng tủa đi khắp nơi. Du khách yên vị trên ghế nệm khá sang trọng của toa hạng nhì mà vẫn còn ngái ngủ, vì muốn kịp đáp chuyến tàu đầu tiên đến Brussels phải thức dậy từ 5 giờ sáng để đi Metro từ trung tâm Paris đến ga này.

Xe lướt ngang qua Hoàng cung được xây dựng từ thế kỷ 18, được vua Léopold 2 của Bỉ cho sửa sang lại để sử dụng làm cung điện hoàng gia. Nơi đây chỉ mở cửa cho công chúng tham quan vào mùa hè. Lá cờ Bỉ ba màu đen, vàng và đỏ bay phất phới trên đỉnh cung điện cho biết nhà vua Arbert II (lên ngôi năm 1993) đang có mặt trong nước.

Du khách đến tham quan Công viên châu Âu thu nhỏ nằm trong công viên Brussels với mô hình khoảng 300 danh lam thắng cảnh tiêu biểu của hơn 10 nước châu Âu. Trong công viên rộng 250.000 m2 này thu thập khá toàn diện các thành tựu lịch sử, văn hóa và nghệ thuật của các nước trong cộng đồng châu Âu qua mô hình tác phẩm nghệ thuật kiệt xuất xưa lẫn nay, từ tòa công sở hiện đại của Ủy ban châu Âu đến các cung điện lộng lẫy, đền thờ nguy nga, các cối xay gió hiền hòa hay tu viện trang nghiêm soi bóng bên hồ nước.

Phía Nam công viên là Quả cầu nguyên tử được xây dựng năm 1958 chào đón hội chợ quốc tế Brussels. Quả cầu được thiết kế hiện đại với khối hình cầu mô phỏng cấu trúc một phân tử sắt được phóng đại, gồm 9 quả cầu bạc lơ lửng trên không, mà mỗi khối đều có bản sắc riêng. Bên trong quả cầu này gồm các phòng triển lãm và một nhà hàng. Nếu đến đây vào buổi tối, du khách sẽ được thưởng thức 9 quả cầu giao hoán vị trí giống như sự di chuyển của các điện tử trông rất đẹp đẽ và hoành tráng.

Nổi bật giữa lòng Brussels là Quảng trường lớn (Grand Place) diện tích 20.000 m2 xây vào thế kỷ 11 với nền lát đá hoa cương. Quảng trường này đã được UNESCO ghi vào danh sách di sản văn hóa nhân loại và từng được Đại văn hào Victor Hugo ca tụng là "quảng trường đẹp nhất thế giới" vì được bảo tồn tốt nhất châu Âu.

Bao quanh quảng trường là những tòa nhà tráng lệ xây dựng từ thế kỷ 15, tạo nên một khung cảnh nguy nga. Xưa kia nơi đây quy tụ các phường buôn và những thợ thủ công nghiệp từ khắp nơi về kiếm sống.

Phía Nam quảng trường là Tòa thị chính, công trình kiến trúc cổ gothique điển hình được khởi công xây dựng từ năm 1402, với điểm đặc biệt là cổng chính không nằm ở ngay giữa như thông thường mà lại hơi bị lệch sang bên.

Đối diện Tòa thị chính là tòa nhà trước kia mang tên Cung điện Hoàng đế (King’s House) mặc dù xưa nay chưa từng có nhà vua nào ngự nơi này cả. Từ thế kỷ 16, tòa nhà này là Trung tâm Hành chính còn giờ đây là Bảo tàng thành phố.

Ở phía Đông quảng trường có khách sạn Thiên nga trắng nổi tiếng, bởi đây là nơi 150 năm trước Mác và Ănghen từng ở trong suốt 3 năm lưu lại Bỉ (1845-1848) và đã hoàn thành tác phẩm lớn “Tuyên ngôn Cộng sản”.

Lang thang dọc con đường nhỏ Bouchers tọa lạc không xa Quảng trường Lớn, không gì thú vị bằng dừng chân ở một trong các quán bên đường - nơi có bán đủ loại thức ăn, từ món truyền thống của Bỉ đến các món ăn Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Nhật Bản... Du khách đừng bỏ lỡ cơ hội thưởng thức món "moule mariniere", đặc sản ốc nổi tiếng của Bỉ.

Sẽ thiếu sót nếu đến Brussels mà không đến viếng "Công dân số 1" của thành phố này, đó là bức tượng Manneken Pis, gọi vui là "Chú bé tồng ngồng đứng đái".

Giống như tháp Eiffel của Pháp hay cối xay gió của Hà Lan, Manneken Pis trở thành biểu tượng (không chính thức) của Brussels và là một trong những tượng đài nổi tiếng nhất châu Âu.

Bức tượng cao 60 cm, đặt trên đài đá hoa cương ngoài trời, cao 2 mét với mái tóc xoăn, chiếc mũi hếch này là tác phẩm của bậc thày điêu khắc Jerome Duquesnoy hoàn thành vào năm 1619, đến năm 1817 được thay bằng bức tượng đồng.

Có rất nhiều dị bản về "lý lịch" chú bé. Người thì cho rằng đây là thiên thần bé nhỏ đã dùng nước tiểu dập tắt mọi đám cháy lớn cứu nguy cho cư dân toàn thành phố. Truyền thuyết khác lại nói đây là một chú bé dũng cảm đã cứu Brussels khỏi bị thiêu hủy bởi quân xâm lược Tây Ban Nha trước khi rút đi. Truyền thuyết cũng kể chú bé huyền thoại này đã nhiều lần bị các đạo quân xâm lược cướp đi nhưng lại luôn tìm được đường về với thành phố quê hương.

Có lẽ vì yêu thương cậu bé kháu khỉnh và nghịch ngợm, các nhân vật quan trọng và nhiều chính khách khi đến Brussels đều tặng những bộ y phục đẹp đẽ cho chú diện vào những dịp lễ trọng đại. Đến nay, gia tài của chú đã lên đến con số 740 bộ trang phục (số liệu năm 2003) được đưa vào trưng bày trong Bảo tàng thành phố. Bức tượng này cũng là mặt hàng lưu niệm được du khách ưa chuộng nhất với rất nhiều kích cỡ từ lớn đến nhỏ.


« Last Edit: 16 Tháng Tám, 2006, 10:40:11 PM by anacodam »

25 Tháng Bảy, 2006, 05:03:38 PM
Reply #2
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 454
  • Điểm bài viết: 6
Roma - thành phố vĩnh hằng


Roma, thủ đô nước cộng hòa Italy, mảnh đất nằm trên bán đảo Địa Trung Hải hoa lệ. Thành phố này là nơi khởi nguồn của đế quốc La Mã cổ đại, thành phố văn hóa lịch sử nổi tiếng của thế giới.



Roma được bắt đầu xây dựng vào giữa thế kỷ thứ 8 trước công nguyên, đến nay đã có 2.800 năm lịch sử, được loài người tôn vinh như một "thành phố vĩnh hằng".

Roma cổ đại được xây dựng trên 7 quả đồi liền nhau nên còn được gọi là "thành phố 7 quả đồi". Trong thành phố có công trình kiến trúc cổ như quảng trường, nhà thờ, tu viện, hoàng cung, trường đấu mãnh thú, miếu thần, pháo đài cổ, các tượng thần, vòi phun nước...

Đến tham quan Roma, du khách sẽ chứng kiến tận mắt các tác phẩm vĩ đại lịch sử này. Cảm giác như đứng trong một viện bảo tàng khổng lồ, do đó Roma còn được du khách gọi là "thành phố bảo tàng".

Đôi khi nếu không có xe cộ qua lại, không có các loại hàng tiêu dùng hiện đại bày bán trong quầy kính, du khách sẽ quên mất mình đang sống ở thế kỷ 21, trong một đất nước hiện đại mà gần như có ý nghĩ thay quần áo kỵ sĩ lên xe ngựa cùng đi với các quý bà nhàn hạ dạo chơi trên đường phố.

Sẽ rất tuyệt vời nếu đến Roma vào mùa thu. Dưới ánh nắng vàng, du khách có thể dạo bước trên những tuyến phố cổ, nhìn ngắm các đài phun nước, những đàn bồ câu bay lượn xung quanh và những trang phục rực rỡ của người dân nơi đây như tô vẽ thêm nét đẹp và lãng mạn của người Italy.



Quảng trường Venice ở trung tâm thành phố là quảng trường lớn nhất Roma được xây vào năm 1455. Tại đây vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà của những người nổi tiếng trước đây ở Roma. Các hoạt động lễ tiết trọng đại như tổng thống Italy tuyên thệ nhậm chức, đón tiếp nguyên thủ nước ngoài đều được tổ chức ở quảng trường Venice. Người Italy gọi quảng trường Venice là Diễn đàn tổ quốc bởi nó tượng trưng cho biểu tượng nước Italy độc lập và thống nhất.

Quảng trường Tây Ban Nha, quảng trường trung tâm du lịch Roma, bao giờ cũng thu hút nhiều khách tham quan nhất. Có người đến để bày tỏ tình cảm với người yêu, người thì lang thang độc tấu đàn nuối tiếc một cuộc tình dang dở. Tại nơi đây, ngôi nhà màu hồng chính là ngôi nhà kỷ niệm của hai nhà thơ nổi tiếng người Anh: John Keats và Percy Byssche Shelley.

Năm 1672, đài phun nước thuyền cổ do Petro thiết kế được xây dựng đối diện với quảng trường Tây Ban Nha và được gọi là "Con thuyền thiên đàng". Trên cột trụ La Mã ở gần con thuyền thiên đàng điêu khắc nhiều nhân vật trong Kinh thánh. Hằng năm vào dịp Noel, nơi đây lại diễn ra các hoạt động tế lễ trang trọng của giáo hội. Gần quảng trường Tây Ban Nha còn có nhà thờ Tam vi nhất thể, nơi có tháp chuông xây bằng đá trông rất uy nghi và hoành tráng.


« Last Edit: 16 Tháng Tám, 2006, 10:40:50 PM by anacodam »

25 Tháng Bảy, 2006, 05:04:13 PM
Reply #3
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 454
  • Điểm bài viết: 6
Vienna - thủ đô âm nhạc của thế giới

Từ khi bản nhạc "Câu chuyện khu rừng Vienna" của Johann Strauss ra đời tới nay, Vienna như một bài ca tươi đẹp vang vọng mãi trong lòng mọi người.



Vienna là thủ đô nước Áo, thành phố lịch sử nổi tiếng châu Âu nằm trong lòng chảo Vienna dưới chân núi phía Bắc dãy Alps. Dòng sông Danube trong xanh êm đềm chảy qua thành phố, khu rừng Vienna xanh tươi bao bọc thành phố khiến nơi đây trở thành một nơi lý tưởng tạo cảm hứng cho các nhạc sĩ và các nhà nghệ thuật, nổi tiếng thế giới với cái tên dễ thương "Thủ đô của thế giới âm nhạc".

Vienna là cái nôi của âm nhạc cổ điển châu Âu. Tại diễn đàn âm nhạc đã xuất hiện nhiều nhạc sĩ, những ngôi sao âm nhạc có tiếng như Haydn, Mozart, Beethoven, Schubert... Rất nhiều tác phẩm âm nhạc bất hủ cũng được ra đời tại đây, giai điệu của khu rừng Vienna cũng giống như dòng Danube chảy mãi không ngừng và trở nên vĩnh hằng ở thành phố xinh đẹp này. Đâu đâu cũng thấy di tích về các bậc thày âm nhạc thời đó, dù ở đường phố lớn hay trong ngõ nhỏ, ở công viên hay quảng trường. Rất nhiều tên đường, công viên, nhà hát, phòng hội nghị đã lấy tên nhạc sĩ để du khách đến thăm quan. Đi trên đường, khách có thể dễ dàng nghe thấy những điệu nhạc thánh thót không ngừng bên tai. Bước vào bất kỳ quán rượu hay quán cà phê nào cũng thấy những ban nhạc biểu diễn một cách say mê. Người dân nơi đây không thể tách rời âm nhạc một ngày, cuộc sống của họ dường như gắn liền với âm nhạc.




Toàn thành Vienna có khoảng 300 nhà hát kịch và phòng hòa nhạc được phân bố khắp nơi. Trong đó nổi tiếng nhất là Nhà hát kịch quốc gia Vienna, được tôn làm Trung tâm ca kịch của thế giới. Đây là kiến trúc hùng vĩ mang phong cách La Mã. Phòng trước và phòng bên đều được xây bằng đá hoa cương, bên trong có ảnh hoặc treo ảnh của các nhạc sĩ lớn và nghệ sĩ nổi tiếng. Nhà hát gồm 6 tầng với 1.600 chỗ ngồi, tầng 6 có thể chứa hơn 560 khán giả đứng, mỗi năm ở đây diễn tới 300 buổi. Mỗi buổi diễn đều thay đổi tiết mục, với giá vé đắt cắt cổ. Đêm giao thừa, nhà hát còn tổ chức vũ hội. Đúng 12 giờ đêm, tổng thống và các vị quan chức nổi tiếng đều tới nhà hát đón giao thừa, và quang cảnh này được phát sóng trực tiếp trên nhiều kênh thế giới.

Phòng hòa nhạc Vienna là phòng hòa nhạc cổ nhất, hiện đại nhất trong thành phố. Nó được khởi công xây dựng năm 1867, là kiến trúc mang phong cách văn nghệ phục hưng Italy, cổ kính mà trang nhã. Tường ngoài hai màu hồng xen kẽ vàng, trên mái dựng rất nhiều tượng Nữ thần âm nhạc. Bên trong có phòng biểu diễn màu vàng kim, mỗi năm đều có 6 ban nhạc nổi tiếng thế giới đến biểu diễn.

Khu rừng ngoại ô phía tây Vienna nhờ bản nhạc Câu chuyện khu rừng Vienna của Strauss mà nổi tiếng khắp nơi. Khu rừng trải dài tới 10 km cạnh dòng nước trong xanh, cảnh đẹp như tranh vẽ với hình ảnh nhiều ngôi làng nhỏ xinh xắn yên tĩnh, mang tới cảm hứng cho nhiều họa sĩ, nhạc sĩ sáng tạo nên những tác phẩm bất hủ. Tại ngôi làng nhỏ trên Hailigenstaite, nhạc sĩ thiên tài Beethoven với một bên tai điếc đã viết nên tác phẩm danh tiếng Hailigenstaite làm di chúc, thể hiện sự bất bình của ông đối với nhân thế và vận mệnh. Bản Sông Danube xanh và Câu chuyện khu rừng Vienna của nhạc sĩ Strauss cũng được sáng tác trong khung cảnh yên tĩnh này.

Vienna không chỉ là thành phố âm nhạc mà còn là thành phố lịch sử. Thế kỷ 1, Vienna từng là cứ điểm biên phòng quan trọng của đế quốc La Mã. Năm 1137, nó trở thành thủ đô Áo. Thế kỷ 15, Vienna là thủ đô thần thánh của đế quốc La Mã và là trung tâm kinh tế châu Âu. Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18, Vienna là một trong những khu trung tâm chính trị của châu Âu với cái tên "Đô hội văn hóa lớn". Trong thành phố có nhiều danh lam thắng cảnh của các thời kỳ khác nhau, nhưng hấp dẫn nhất là hoàng cung của đế quốc Áo - Hung. Đây là cung điện đặc biệt: thiếu sườn bên trái. Cung điện chính hiện nay là viện bảo tàng quốc gia, bên trong vẻ đẹp bị lệch đó được giữ gìn một cách trân trọng. Sườn bên phải là cung điện phụ, diện tích lớn hơn cung điện chính, giờ là phủ tổng thống và phủ thủ tướng. Trước đây, người ta dự định xây cung điện ở sườn bên trái, nhưng vì đại chiến thế giới nổ ra, hai đế quốc tan rã và dạt về phía Đông. Hoàng cung không cân đối bỗng chốc trở thành di tích để lại suy ngẫm cho người đời.

Giáo đường Phenstejan nằm không xa phía tây bắc hoàng cung là một kiến trúc mang phong cách Gotich đẹp nhất nước Áo. Giáo đường gồm một ngôi tháp chính cao 138 m, đứng trên đỉnh tháp có thể nhìn được toàn bộ thành phố. Chuông tháp cứ đúng giờ lại kêu vang vọng không gian. Bên trong có 1.400 căn phòng gọi là "cung bích vạn", với những phòng được viềm khảm gỗ tứ đàn, hắc đàn và voi theo kiểu Trung Quốc. Có những phòng được trang trí theo kiểu Nhật Bản.

Vienna cũng có nhiều kiến trúc rất hiện đại. Năm 1964, tháp Danube được xây dựng với chiều cao 252 m, du khách có thể đi thang máy lên thẳng quán cà phê trên đỉnh tháp. Quán cà phê được tạo với ba trục tháp vàng với các góc độ khác nhau, cứ 30 phút lại quay một vòng. Du khách tới đây vừa nghe nhạc, vừa uống cà phê và ngắm cảnh thành phố. Tòa nhà Liên Hợp Quốc, công trình kiến trúc lớn nhất thành phố được khánh thành năm 1979, nằm trên bờ bên trái sông Danube, với diện tích 180.000 m2.



« Last Edit: 16 Tháng Tám, 2006, 10:42:16 PM by anacodam »

25 Tháng Bảy, 2006, 05:04:35 PM
Reply #4
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 454
  • Điểm bài viết: 6
Geneve - hoa viên của thế giới


Chỉ cần mở rộng cửa sổ ta có thể thấy đỉnh núi Alps ngay trước mắt, hồ Geneve lấp lánh trong tầm nhìn, đỉnh núi tuyết in bóng trên mặt hồ, rừng thông xanh biếc, hoa cỏ mơn mởn, những ngôi nhà đỉnh nhọn với mái ngói đỏ thấp thoáng trong rừng cây và dáng đứng sừng sững của ngôi giáo đường tháp nhọn.

Geneve nằm ở phía tây nam Thuỵ Sĩ. Phía nam hướng về đỉnh núi Blanc - ngọn núi cao nhất trong dãy Alps, gần bên hồ Geneve là dòng sông Rhone chảy qua thành phố, chia thành phố làm hai phần, bên bờ trái là thành phố cổ kính, bên phải là thành phố hiện đại. Trên bờ sông có 8 chiếc cầu nối liền hai bờ. Geneve là vùng đất phát triển quanh cây cầu lớn nhất, thành phố này được núi đồi và ao hồ bao bọc nên khí hậu quanh năm ôn hoà, non xanh nước biếc, phong cảnh đẹp như tranh nên được gọi là Thánh địa của du khách.

Vừa vào Geneve, du khách sẽ thấy ngay một ngọn suối phun mà ngọn nước như muốn đâm thủng trời xanh. Ngọn suối biểu tượng của Geneve này một suối phun nhân tạo, được thiết kế dưới hồ Geneve với một máy bơm nước có công suất cực mạnh. Tốc độ phun đạt 220 km/h, lúc bình thường chỉ phun cao 100 m, nhưng độ cao tối đa có thể đạt tới 150 m. Khối lượng nước trong không trung khoảng 7 tấn.

Nếu nhìn từ xa thì suối này tựa như lầu vàng gác ngọc treo lơ lửng trên không trung. Trong ánh sáng mặt trời, bụi nước biến thành cầu vòng trông phảng phất như một dải lụa tuyệt đẹp. Mặt hồ phẳng lặng như gương, xa xa có những con thuyền đang nhẹ lướt, thiên nga và vịt trời tới đây đùa giỡn. Đỉnh núi tuyết Alps soi bóng xuống hồ nước khiến ta cảm giác như một nửa quả núi trên mặt nước, còn một nửa quả núi kia ở dưới mặt nước. Bên hồ có hoa chung (đồng hồ bằng hoa), công viên hoa hồng, hoa viên Anh quốc và vườn thực vật. Cả thành phố tràn ngập màu xanh hoa cỏ. Trong thành phố có đại giáo đường thánh Peter được xây dựng vào thế kỷ XIII, viện bảo tàng lịch sử nghệ thuật, một kịch viện phỏng theo kiến trúc của kịch viện Paris. Trên đảo Jean Jacques Rousseau có bức tượng đồng của chính nhà triết học người Pháp này.

Trong thành phố có nhiều điểm nghỉ ngơi, tránh cái nóng bức của mùa hạ, lại có thể trượt tuyết vào mùa đông. Nơi đây có đầy đủ tiện nghi, du khách được phục vụ chu đáo. Nổi tiếng nhất là môn trượt băng. Thuỵ Sĩ có hơn 200 trường dạy trượt tuyết với hơn 4.000 huấn luyện viên. Vào mùa đông, từ các thương gia đến quan chức và minh tinh Hollywood đều thích tới đây du ngoạn. Ngành du lịch mang lại cho Thuỵ Sĩ rất nhiều ngoại tệ và khiến Geneve trở thành thánh địa du lịch nổi tiếng của thế giới.

Geneve còn nổi tiếng vì tính thế giới của nó. Trong một thời gian dài trở lại đây, Thuỵ Sĩ luôn theo chính sách trung lập. Năm 1920, Liên minh quốc tế (League of Nations) thành lập và đặt cơ quan trung ương tại Geneve. Từ đó, có hàng trăm tổ chức và hiệp hội đặt cơ sở tại đây như Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Hội chữ thập đỏ quốc tế (IRR), Liên minh điện tín quốc tế (ITU)…

Từ lâu, Thuỵ Sĩ đã được mệnh danh là Vương quốc của đồng hồ. Nơi nào trên quốc gia này cũng có một tòa Hoa chung rất đẹp. Trên đường phố Geneve có rất nhiều tiệm đồng hồ, với mọi chủng loại, từ nhỏ như đầu que diêm đến những đồng hồ cổ nặng hàng chục kg, từ những đồng hồ trang sức cao cấp đến đồng hồ đồ chơi vừa đẹp vừa rẻ, với đủ hình dáng như hình tròn, vuông, tam giác, hình bầu dục, quả tim, hình hoa mai.

Về nguồn gốc lịch sử, Thuỵ Sĩ chia làm các khu vực ngôn ngữ khác nhau như Đức, Pháp, Italy. Geneve thuộc khu vực Pháp ngữ nên mang đậm phong cách lãng mạn của nước Pháp. Công viên Geneve là một công viên điển hình mang phong cách Pháp. Nơi đâu trên đường phố Geneve cũng có nhiều người với mọi màu da. Trên các toà nhà luôn phấp phới nhiều màu cờ khác nhau. Trong thành phố hơn 30.000 dân này, người ngoại quốc chiếm 30%. 
 




« Last Edit: 16 Tháng Tám, 2006, 10:43:09 PM by anacodam »

25 Tháng Bảy, 2006, 05:05:05 PM
Reply #5
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 454
  • Điểm bài viết: 6
Paris - người con gái của sông Seine


Paris là một thành phố mỹ lệ có lịch sử lâu đời, là mảnh đất nổ ra cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789, nơi khai sinh công xã Paris, chính quyền vô sản đầu tiên trên thế giới. Khải Hoàn Môn, Vương cung thánh đường Paris, tháp Eiffel, cung điện Louvre là những danh tích làm say đắm bao du khách.
 

Thủ đô của Pháp được phong tặng rất nhiều mỹ từ như “Thủ đô hoa”, “Thủ đô thời trang”, “Thủ đô nước hoa”… Nhiều tiểu thuyết lấy Paris làm bối cảnh như “Nhà thờ Đức bà Paris”, “Những người khốn khổ”, “Manh nha”… Những bộ tiểu thuyết này từ nhiều góc độ đã khắc hoạ hình ảnh xã hội của các giai cấp và nếp sinh hoạt của người dân Paris.

Theo tư liệu để lại, những cư dân đầu tiên của Paris đã sống trên đảo Saint Louis và đảo Cité nằm giữa dòng sông Seine. Hai nghìn năm trước, đây là nơi đánh cá, ngư dân là người của bộ lạc Parisi và Gaulois. Paris dần được mở rộng từ nơi này và tên tuổi của nó cũng được diễn giải từ tên của bộ lạc Parisi. Hai đảo này trở thành cái nôi của Paris ngày nay. Những lần Paris mở rộng phạm vi, nơi này đều được lấy làm trung tâm và luôn là khu vực hành chính của Paris. Trải qua 20 thế kỷ không ngừng phát triển diện tích, Paris ngày nay trải rộng trên khu vực 105 km2. Quanh Paris có 7 tỉnh, kết hợp với thành phố trở thành khu Paris rộng lớn, có tên gọi là France với tổng diện tích 12.000 km2, dân số hơn 10 triệu người. Sông Seine giống như một dải lụa trắng lấp lánh ánh bạc, chậm rãi chảy qua trung tâm thành phố. Theo truyền thuyết, nơi đây từng xảy ra một trận hạn hán khốc liệt và nữ thần Seine đã giáng trần, rải nước Cam lộ cứu nạn. Nước này đã hội tụ thành nước sông Seine. Ngày nay, trên bờ sông có tượng nữ thần Seine đứng sừng sững để mọi người chiêm ngưỡng. Người Paris thích gọi thành phố của mình là “Con gái của sông Seine”. Dọc theo bờ sông có rất nhiều danh lam thắng cảnh và các kiến trúc trứ danh của mọi thời đại khiến người ta phải ngây ngất như đang đi vào một nơi triển lãm hùng vĩ.

Vương cung thánh đường trên đảo Cité là một ngôi giáo đường của đạo Thiên Chúa, bắt đầu xây dựng vào năm 1163, đến năm 1345 thì hoàn thành. Đây là kiến trúc theo kiểu Gothique cổ xưa nhất của Paris. Toàn bộ kiến trúc này được xây bằng đá, các tháp cầu, các đỉnh đều theo mô típ tháp nhọn. Chính diện hình lập phương, góc cạnh rõ ràng, luôn toát ra một bầu không khí trang nghiêm. Từ trên xuống dưới chia làm ba phần: tầng thấp nhất có 3 cửa ra vào hình trái đào, cửa bên trái là “Cửa thánh Mẫu”, cửa bên phải là “Cửa thánh Anna”. Cửa chính của giáo đường dẫn vào bên trong một đại sảnh hình chữ nhật, dài 130 m, rộng 50 m, cao 35 m, có thể chứa được 9.000 người. Trên đế đàn phía trước giáo đường là bức tượng “Chúa Jesus sau khi tử nạn”. Tượng này làm bằng đá cẩm thạch được vây quanh bằng các tượng thiên thần và thánh nữ. Trong hành lang, trên tường, trên bệ cửa sổ có rất nhiều tranh tượng mà nội dung lấy từ kinh Cựu ước, toàn cảnh thánh đường toát lên vẻ trang nghiêm tráng lệ. Nơi đây từng cử hành nhiều buổi lễ long trọng như lễ đăng quang của vua Louis 14 và vua Louis 16, lễ đăng quang của Napoleon, lễ mừng chiến thắng trong hai cuộc đại chiến thế giới của nhân dân Paris…

Cung điện Louvre nằm bên bờ bắc sông Seine, vốn là cung điện của các vua chúa nước Pháp. Từ năm 1793, nơi này trở thành viện bảo tàng mỹ thuật quốc gia, với diện tích 180.000 km2, cất giữ hơn 400.000 tác phẩm mỹ thuật nhưng chỉ trưng bày 1/10 số lượng này để mọi người được thưởng thức. Hai bên chính điện là hai công trình phụ, khoảng trống giữa hai công trình này là quảng trường Carousel. Phía đông của cung điện này là một hành lang dài với một hàng trụ cột lớn. Trong cung điện có 225 phòng trưng bày, phân thành các phòng nghệ thuật La Mã và Hy Lạp, phòng điêu khắc thời hiện đại và các tác phẩm thời Phục Hưng, phòng trưng bày hội hoạ của các thời đại… Trong đó, có tác phẩm Mona Lisa (còn gọi là La Jocon) của Leonardo da Vinci, hai bức tượng bất hủ thời cổ Hy Lạp là Nữ thần Venus và Nữ thần chiến thắng.

Để tận dụng không gian, vào tháng 3/1989, trên quảng trường phía trước viện bảo tàng, người ta cho xây thêm 3 kim tự tháp, một lớn, hai nhỏ với kết cấu hoàn toàn bằng pha lê. Khách tham quan có thể vào viện bảo tàng thông qua lối đi thứ nhất nằm trong kim tự tháp lớn nhất. Ánh sáng phản chiếu tự nhiên của pha lê càng tôn thêm vẻ đẹp vốn có của cung điện Louvre.

Tháp Eiffel nằm bên bờ nam sông Seine chính là cột mốc của Paris hiện đại. Kỹ sư Eiffel đã thiết kế công trình này nhân kỷ niệm 100 năm đại cách mạng của Pháp, đồng thời cũng là dịp khai mạc hội chợ triển lãm thế giới tại Paris. Đây là một trong những kiến trúc nổi tiếng của thế giới, được xây dựng từ năm 1887 đến 1889 thì hoàn thành. Tháp cao 320 m, trên tháp có 3 đài quan sát. Từ đây người ta có thể thấy được toàn bộ Paris. Trên đài cao nhất còn đặt một tấm hình cực lớn để đối chiếu với thực cảnh bên ngoài, kèm theo phần ghi chú của nhiều địa điểm.

 
Đại lộ Champs Elysees và Khải Hoàn Môn là thắng cảnh nổi tiếng của Paris. Đại lộ này là con đường huyết mạch, đồng thời là nơi tổ chức các chợ phiên của thị dân Paris. Con đường dài 1.800 m, rộng 120 m, có 10 làn xe chạy, hai bên đường là nơi phô bày vẻ xa hoa, hào nhoáng của Paris với các đại ngân hàng, hý viện, cửa hàng thời trang, đại siêu thị cũng như những điểm ăn chơi của giới thượng lưu. Khải Hoàn môn nằm ngay quảng trường Carrousel, cao 49 m, rộng 45 m, sâu 22 m. Khải Hoàn Môn được xây dựng vào năm 1808 và kéo dài trong suốt thời gian Napoleon cầm quyền. Trên tường là các phù điêu lớn và tên 386 tướng lãnh đã từng theo Napoleon đi viễn chinh, bên dưới là mộ những tướng sĩ vô danh cùng một ngọn đèn chong thắp sáng suốt đêm ngày và một nhóm vệ binh đứng gác. Du khách có thể leo bộ hoặc dùng thang máy lên đỉnh để nhìn ngắm Paris.




« Last Edit: 16 Tháng Tám, 2006, 10:44:07 PM by anacodam »

25 Tháng Bảy, 2006, 05:05:20 PM
Reply #6
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 454
  • Điểm bài viết: 6
Bern - thành phố cổ xinh đẹp


Trong tất cả những thành phố của Thụy Sĩ, thủ đô Bern được xem là thành phố xinh đẹp nhất.


Nằm trên một bán đảo ở khúc quanh của sông Aare, Bern yên tĩnh lạ lùng với những ngõ hẻm rải sỏi nối những ngôi nhà có mái vòm, tuy đã thay đổi phần nào qua hơn 500 năm bằng sự tô điểm của những cửa hàng hiện đại, xe hơi và xe điện.

Xung quanh thành phố là đồi núi và những bờ sông dốc đứng với nhiều cây cối. Quang cảnh của những cụm mái nhà trong phố cổ và dãy Alps uy nghi ở cuối chân trời trông rất ngoạn mục.

Bern là một thành phố nhỏ với khoảng 130.000 dân. Điểm hấp dẫn của nơi này là không khí của nó. Các phương tiện giao thông không được vào trong phố cổ. Du khách tới đây có thể bỏ ra cả ngày chỉ để lang thang trên những con phố và ngõ hẻm, những quán cà phê, và nếu trời nóng, có thể cùng những người dân địa phương lao xuống sông tắm.

Cách bố trí những đường phố từ thời trung cổ với những mái vòm, vòi phun trên đường phố và những ngọn tháp cổ đã thuyết phục Unesco công nhận Bern là một trong những di sản văn hóa thế giới, cùng với những thành phố huyền thoại khác như Florence hay Petra.




« Last Edit: 16 Tháng Tám, 2006, 10:45:03 PM by anacodam »

25 Tháng Bảy, 2006, 05:06:01 PM
Reply #7
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 454
  • Điểm bài viết: 6
Mexico City - thành phố đẹp như tranh


Thành phố nổi tiếng của Mexico là thủ đô và là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và giao thông của cả nước. Đây là một đô thị cao nguyên cổ, nằm trên đồng bằng Jilake bên rìa cao nguyên Nam bộ Mexico, có độ cao 2.259 m so với mặt biển.


Thành phố Mexico được hợp thành từ 16 khu vực nội ngoại thành, diện tích 1.499 km2, chiếm 20% dân số nước này. Đây cũng là một trong những thành phố lớn nhất thế giới.

Mexico nằm ở khu vực nhiệt đới, nhưng do địa thế cao nên mùa đông không quá lạnh và mùa hè không quá nóng. Khí hậu ôn hòa nên là nơi nghỉ hè và điều dưỡng lý tưởng. Bao quanh thành phố là núi. Phía nam là dãy Caterhuo quanh năm tuyết phủ trắng xóa, phía đông là Teskeke Lake - cái nôi văn hóa của người Indian cổ đại. Mexico có cảnh sắc tuyệt đẹp, là tập trung di tích văn hóa của người Indian. Khắp nơi trong thành phố có những bức bích họa phản ánh cuộc sống và cuộc đấu tranh của người Mexico, khiến nơi đây trở thành một trung tâm du lịch của châu Mỹ Latin.

Thành phố Mexico vốn là nơi cư trú của bộ tộc Aztec người Indian. Truyền thuyết kể rằng, từ đầu thế kỷ 11, bộ tộc du mục Aztec ở phía bắc Mexico nhận được một câu sấm truyền. Theo đó, họ phải đi về phía nam, cho tới khi thấy một con chim ưng mỏ quắp một con rắn, đậu trên một cây xương rồng lớn. Đó chính là nơi định cư của họ. Dưới sự thống lĩnh của thủ lĩnh Tennuoqi, họ bắt đầu cuộc viễn chinh. Sau một thời gian trèo đèo lội suối, với một con chim sâu dẫn đường, cuối cùng họ cũng tìm thấy nơi cần đến. Đó là một hòn đảo vùng Teskeke Lake. Họ ở lại đảo này, lập nghiệp và xây dựng thành phố Tenuoqiditelan vào năm 1325, tiền thân của thành phố Mexico. Trong tiếng Indian, Tenuoqiditelan có nghĩa là Cây xương rồng trên đá. Đầu thế kỷ 15, dân số thành phố là 100.000 người, đến giữa thế kỷ 15 đã tăng lên khoảng 200.000-300.000 người, hơn cả dân số của London lúc đó.

Thành phố Mexico chia làm 2 khu vực. Một khu gọi là Telae Tellioeke, có nghĩa là Phần còn lại của Mexico (lấy theo tên thần Moxite mà bộ tộc này rất sùng kính). Người Aztec gọi đây là thành phố Mexico Tenuoquiditelan. Theo truyền thuyết, nguồn gốc thành phố này có liên quan đến việc chim ưng cắp rắn đã trở thành biểu tượng của thành phố.

Năm 1492, thực dân Tây Ban Nha chiếm lĩnh thành phố. Chúng bắt người Indian xây giáo đường, tu viện, cung điện và những con đường theo kiểu châu Âu. Năm 1535, thành phố này trở thành thủ phủ của trấn Tây Ban Nha mới. Năm 1821, sau khi Mexico độc lập, thủ đô được rời về đây. Cuối thế kỷ 19, thành phố bắt đầu công cuộc xây dựng những kiến trúc cao tầng cận đại với quy mô lớn. Mexico ngày này có di tích văn hóa của người Indian cổ xen kẽ với những kiến trúc châu Âu thời kỳ thực dân Tây Ban Nha cùng những tòa nhà cao tầng hiện đại.

Quanh Mexico, từ các hội trường công cộng đến tường của các nhà hàng khách sạn, đều có nhiều bức bích họa rực rỡ, nội dung phong phú, phản ánh cuộc sống của người Indian cổ đại, cuộc đấu tranh chống xâm lược của nhân dân Mexico và cuộc sống hiện đại. Nổi tiếng nhất là bức bích họa Đại học, phục vụ vì dân tộc vẽ trên tường của thư viện trường đại học quốc lập Mexico, với diện tích bề mặt là 4.300 m2, chiếm cả 4 bức tường tòa nhà cao 18 tầng. Đây là tác phẩm của họa sĩ Xicziluoc lừng danh.

Thành phố Mexico có rất nhiều danh lam thắng cảnh. Quảng trường của người Aztec trước đây nay là quảng trường hiến pháp ở trung tâm thành phố. Phía tây là cung quốc gia nổi tiếng, phủ tổng thống, bộ quốc phòng, bộ tài chính, viện bảo tàng quốc gia Mexico. Ở cửa chính trung tâm treo một chiếc “chuông tự đường”, là chuông mà người anh hùng Hidago (người đã lãnh đạo nhân dân Mexico đấu tranh chống lại sự thống trị của thực dân Tây Ban Nha) đã đánh lên. Ở phía tây quảng trường là khu công nghiệp chính của thành phố Mexico. Phía bắc có một giáo đường lớn, do người Aztec xây dựng từ đống đổ nát. Các bùng binh trong thành phố đều có bồn hoa. Một phù điêu bằng đồng có tên là Nhà sáng nghiệp Tenuoquidi, được xây dựng trên một bậc phẳng nghiêng cao ở phía nam và thấp dần ở phía bắc. Nhà trệt được lát gạch men đỏ hình vuông, màu xanh thẫm và xanh nhạt. Dòng nước trong suốt từ trên cao róc rách chảy xuống, tượng trưng cho Teskekelake. Phía bắc của bậc cao này là một vài cụm đá, bên trên trồng một cây xương rồng lớn. Trên đỉnh là một con chim ưng giang rộng đôi cánh, mỏ quắp một con rắn, móng vuốt quắp đuôi rắn. Phía nam bậc cao là một quần thể 5 điêu tượng Acitaike, phía trước là người mặc áo choàng, mặt đối diện là chim ưng, hai tay giang rộng, hai bàn tay hướng lên trời như đang nói: “Đây là nơi ta cần tìm”. Quần thể điêu tượng này đã tái hiện sinh động truyền thuyết về lịch sử thành phố Mexico.

Quảng trường Mayuer ở phố Dakuba là nơi tập hợp 3 nền văn hóa. Đây vốn là di tích đàn tế của người Indian cổ đại. Bên cạnh là giáo đường lớn do người Tây Ban Nha xây dựng từ thời trung cổ, là đại diện của nền văn hóa thực dân. Ngoại vi lại có tòa nhà bộ ngoại giao mới xây theo kiến trúc hiện đại. Tập hợp 3 nền văn hóa này đã hình thành sự sống mạnh mẽ, thể hiện lịch sử văn hóa hơn 600 năm của thành phố Mexico.


 Kim tự tháp mặt trăng - một địa danh nổi tiếng của thành phố Mexico
« Last Edit: 16 Tháng Tám, 2006, 10:45:56 PM by anacodam »

25 Tháng Bảy, 2006, 05:06:33 PM
Reply #8
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 454
  • Điểm bài viết: 6
Stockholm - viên ngọc trên mặt biển


Stockholm, Thành phố trên biển hay biển trong thành phố ,thủ đô của Thụy Điển quả xứng đáng với biệt danh “Venice phương Bắc”. Stockholm còn là điển hình của một sự lai tạp thành công. Ánh sáng phương bắc càng sinh động hơn khi chiếu rọi lên sắc màu của một thành phố đột nhiên giống với nước Ý.



Đối với các du khách đến từ phương nam, Stockholm quá lạ lẫm nên sự so sánh sẽ thật khôi hài. Cả hai thành phố đều nhô lên từ biển, nhưng trái với Venice vốn luôn hoài vọng về quá khứ, Stockholm muốn chống đỡ với tương lai. Stockholm sống với quá khứ xưa cũ cộng hưởng với những lĩnh vực của sự toàn cầu hóa. Tại Gamla Stan, các mặt tiền của thế kỷ 17 xỉn màu đất, còn của thế kỷ 18 lại có sắc thủy tiên. Ở khu phố Kungsholmen, đó là màu da trời hay ngọc lục bảo.

Trên Gamlan Stan, hòn đảo nhỏ mà giờ đây là một thành phố lớn với 700.000 dân, người ta đi ngược về quá khứ khi dạo bước trên con đường lát đá Branda Tomte. Dưới ánh sáng lung linh của đèn đường, người ta chờ đợi sẽ gặp một bà phù thủy với cái mũ nhọn xuất hiện cùng lũ ma quỉ nhăn nhở. Nhưng ở giữa khu phố Norrmalm, tòa thư viện quốc gia hình tròn được xây dựng vào năm 1928 là điển hình rõ nhất cho trường phái kiến trúc chức năng. Khi gạt bỏ kiến trúc cổ truyền để chọn sự thuần lý, Thụy Điển đã phát minh ra ngành design.

Vươn cao trên quảng trường Kindstragatan với năm băng ghế gỗ chung quanh một cây dẻ, ngôi nhà thờ Đức Sainte-Gertrude gợi nhắc rằng vào thế kỷ 17, người Đức rất đông đúc nên vua Charles IX cho phép họ lập giáo xứ riêng. Nhưng tương phản mạnh mẽ với kiến trúc baroque đó, nhà hàng Bon Lloc trên đảo Sodermalm chứng tỏ khả năng thích nghi của Thụy Điển. Từ lâu bị hạn chế trong thực đơn cá - khoai tây và gia cầm -khoai tây, đất nước này đã biết tưởng tượng ra lối ẩm thực tổng hợp các sản phẩm Bắc Âu và cách nấu nướng Latin. Nhờ vậy bếp trưởng Mathisa Dahlgren đã đoạt được giải thưởng quốc tế.

Để biện minh cho việc tiêu thụ rượu thái quá, các quán bar Krog buộc phải bán thêm thức ăn theo luật định. Và người dân Stockholm cũng chen nhau đến các hàng quán chỉ bán fika, loại cà phê được họ tiêu thụ nhiều nhất (10kg/năm/người) với hơn bốn tách mỗi ngày, trong khi người Ý chỉ uống được chưa đến hai tách. Còn các khách sạn ở Stockholm rõ ràng có khuynh hướng tưởng tượng.

Cho đến thế kỷ 19, khách sạn Langholmen còn là một nhà tù, với các phòng là những phòng giam cũ. Còn có các con tàu cũ được sửa đổi thành khách sạn, chẳng hạn chiếc tàu ba cột buồm Flaggmansvagen của năm 1888. Và có cả những khách sạn được biến thành con tàu, như khách sạn Victory lấy hứng từ chiếc tàu của lord Nelson với các phòng ngủ là cabin. 
 

 

Trong sự qua lại thường xuyên giữa di sản và hiện đại, Bảo tàng Vasa là một bằng chứng khác cho khả năng hoán chuyển của Stockholm. Thủ đô đã dành riêng bảo tàng, vốn là một xưởng máy kỹ thuật cao, cho một con tàu gỗ bị chìm năm 1628 đúng vào ngày hạ thủy. Dài 70m và cao đến mức những cột buồm chui cả qua mái, chiếc Vasa được bao bọc trong tòa nhà sáu tầng mà mỗi tầng là một bảo tàng mini: cuộc sống trên tàu, những trận đánh trên biển Baltique, Thụy Điển vào thế kỷ 17. Ánh sáng và độ ẩm được kiểm soát thường xuyên bởi các bộ cảm biến để con tàu được trục vớt lên sau ba thế kỷ nằm im dưới đáy biển không bị tan rã. Bên dưới sống tàu, hàng dãy máy vi tính sẽ giúp khách tham quan làm quen với kỹ thuật đóng tàu vào thời kỳ đó. 

Trong thời kỳ 1860, một phần ba dân số Stockholm đã di dân sang Mỹ để trốn sự nghèo đói, nhưng giờ đây đất nước này có 1 triệu rưỡi công dân gốc nước ngoài trên tổng số 9 triệu dân. Điều này giải thích cho tính chất đa tạp của Stockholm: tài xế taxi người Ethiopia, nhà sách thì đa ngôn ngữ... Điển hình còn đến từ trên cao: hoàng hậu Sophie (1836-1913, vợ vua Oscar II) là người Brazil gốc Đức, còn người dựng lên vương triều vào năm 1810 là một trong các thống chế của Napoléon: Jean-Baptiste Bernadotte, tức vua Karl XIV (1763-1844).

Sự khác biệt lớn nhất giữa Stockholm và Venice là cách sử dụng môi trường nước. Mục đích của Venice trước tiên là lợi ích. Còn với Stockholm lại là thú vui. Giữa biển Baltique và hồ Malaren, người ta đều được phép câu cá hồi trên 52 cây cầu của thành phố và bơi lội trong vô số các vịnh biển. Bởi vì trái với Venice, sự ô nhiễm của thủ đô Thụy Điển đã được chế ngự. Người ta trượt băng vào mùa đông và bơi thuyền buồm vào mùa hè, vì một phần ba dân cư thành phố đều có thuyền.   

Và Stockholm còn có một ưu thế cuối cùng so với Venice: thành phố có diện tích khoảng xanh gấp ba lần diện tích xây dựng. Đó là một thành phố được xây dựng ở miền nông thôn


« Last Edit: 16 Tháng Tám, 2006, 10:51:37 PM by anacodam »

25 Tháng Bảy, 2006, 05:06:57 PM
Reply #9
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 454
  • Điểm bài viết: 6
Côn Minh - thành phố năng động


Tại khu vực miền trung tỉnh Vân Nam có một hồ nước trong vắt rộng mênh mông, giống như viên ngọc óng ánh khảm trên vùng cao nguyên, gọi là "Điền Trì". Thành phố Côn Minh nằm bên bờ hồ cao nguyên tươi đẹp này.


Côn Minh nằm trên vĩ độ thấp, thuộc khí hậu gió mùa núi đồi cao nguyên, do chịu ảnh hưởng của luồng khí ẩm ướt tây nam Ấn Độ Dương. Nơi đây ánh nắng dồi dào, sương mù ít, nhiệt độ bình quân năm là 15 độ C. Khí hậu ôn hòa, mùa hè không nóng, mùa đông không lạnh, bốn mùa như xuân khiến người ta cảm thấy thoải mái dễ chịu, và được gọi là thành phố mùa xuân. Đây cũng là thành phố du lịch quanh năm bốn mùa hiếm có trên thế giới, mệnh danh Geneva của phương Đông.

Côn Minh có rất nhiều cảnh quan thiên nhiên và nhân văn. Lịch sử lâu đời và kết cấu địa chất độc đáo đã để lại nhiều cổ tích văn vật và danh lam thắng cảnh cho nơi này. Thành phố Côn Minh đang phát triển du lịch, hình thành thắng cảnh du lịch xuân - hạ - thu - đông, lấy vườn sinh vật cảnh thế giới làm trung tâm .


Hội chợ sinh vật cảnh thế giới năm 1999 đã đạt chuẩn của hội chợ sinh vật cảnh hạng A1, là vườn sinh vật cảnh thế giới mang đặc sắc Vân Nam. Các nước phát triển tổ chức hội chợ sinh vật cảnh đều áp dụng biện pháp đầu tư và sử dụng một lần, nhưng hội chợ sinh vật cảnh Côn Minh đã để lại toàn bộ công trình như địa điểm tổ chức, sân nhà trưng bày..., đồng thời thực hiện việc kinh doanh theo doanh nghiệp hóa, thu được hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và môi trường. Hội chợ sinh vật cảnh thế giới Côn Minh năm 1999 đã lập nhiều kỷ lục mới trong lic̣h sử hội chợ sinh vật cảnh thế giới về các mặt: thời gian tổ chức hội chợ ngắn, diện tích triển lãm rộng, các nước dự triển lãm nhiều, số người tham quan đông.

Vân Nam là một tỉnh gồm có nhiều dân tộc. Tỉnh lỵ Côn Minh của Vân Nam cũng là một thành phố gồm 26 dân tộc, trong đó có dân tộc Hán, Thái, Hani..., mang lại nhiều đặc sắc dân tộc cho Côn Minh. Mỗi dân tộc đều có ngày lễ ngày tết riêng, khiến Côn Minh luôn luôn tưng bừng nhộn nhịp trong mỗi quý và mỗi tháng. Các lễ hội nổi tiếng là tết bó đuốc của dân tộc Di, lễ té nước của dân tộc Thái, tết hoa nở của dân tộc Mèo, chợ tháng 3 của dân tộc Bạch....

Kim Mã Phường và Bích Kê Phường nằm trong trung thâm thành phố Côn Minh, là hai kiến trúc tiêu biểu của thành phố này. Hai công trình này xây dựng từ đời Minh, đến nay đã có gần 400 năm. Điều độc đáo của Kim Mã Phường và Bích Kê Phường là, khi mặt trời vừa lặn, chiều tà vàng ánh rọi từ phía tây, Bích Kê Phường sẽ ngả bóng xuống đường phía đông. Trong khi đó mặt trăng lại mọc lên từ phía đông, ánh trăng dịu dàng rọi lên Kim Mã Phường, rồi ngả bóng xuống mặt đường phía tây. Bóng hai kiến trúc này dần dần nhích lại gần nhau, đan chéo lẫn nhau, trông lộng lẫy và bắt mắt.

Tỉnh Vân Nam giáp ranh với Việt Nam, Lào và Myanmar, khiến thành phố Côn Minh trở thành trạm trung chuyển và lô cốt đầu cầu trong hợp tác kinh tế và giao lưu thương mại giữa Trung Quốc với các nước ASEAN
.

« Last Edit: 16 Tháng Tám, 2006, 10:53:06 PM by anacodam »

25 Tháng Bảy, 2006, 05:08:08 PM
Reply #10
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 454
  • Điểm bài viết: 6
Los Angeles - thành phố thiên thần


Lớn nhất miền Tây nước Mỹ, lớn thứ 3 trong cả nước và là kinh đô ánh sáng, thắng cảnh đẹp, thời tiết mát mẻ, Los Angeles không hổ danh là điểm du lịch nổi tiếng thế giới. Theo âm dịch từ tiếng Tây Ban Nha, Los Angeles có nghĩa là "thành phố thiên sứ".

Trước kia, đây là nơi chăn nuôi của người Indian. Năm 1781, thực dân Tây Ban Nha đã cho xây dựng một thị trấn ở đây. Đến năm 1822, Los Angeles được người Mexico trông nom, cai quản, và năm 1846 được trả về cho nước Mỹ. Thành phố chỉ được chính thức xây dựng vào năm 1850.

Vào giữa thế kỷ 19, nhờ vào việc phát triển mỏ vàng ở California, đường sắt Thái Bình Dương xuyên đại lục đã được khởi công xây dựng, tạo điều kiện cho thành phố phát triển. Trong thế chiến 2, nước Mỹ giàu lên nhờ buôn bán vũ khí, ngành công nghiệp vũ khí đạn dược phát triển mạnh. Đầu thế kỷ 20, với việc xây dựng đường ống dẫn nước dài, Los Angeles đã giải quyết được việc cung cấp nước - một vấn đề nghiêm trọng, nhờ vậy nó nhanh chóng trở thành thành phố lớn nhất dọc bờ biển phía Tây nước Mỹ.

Los Angeles lớn nhưng không tập trung. Diện tích toàn khu vực thành phố là 1.024 km2, bao gồm hơn 80 thành phố và thị trấn xung quanh với tổng diện tích hơn 10.000 km2, dân số hơn 7 triệu người. Sự không tập trung này khiến cho du khách thường có cảm giác "đến rồi mà tưởng như chưa đến". Dân thành phố đi làm, đi học hay ra ngoài đều sử dụng xe hơi. Bình quân cứ 1,5 người có một xe hơi, và trên 80% dân có xe riêng. Người ta có thể chạy xe hơi tới các giáo đường làm lễ, nhà hàng, hiệu sách, siêu thị... Đường cao tốc và đường dẫn vào các bãi đậu xe chiếm khoảng 30% tổng diện tích toàn thành phố. Mật độ dày đặc này khiến Los Angeles còn mang thêm biệt danh "thành phố của xe hơi".

Ngoại thành Los Angeles có khu vui chơi giải trí nổi tiếng toàn thế giới, Walt Disney. Khu giải trí này do nhà làm phim hoạt hình Mỹ Walt Disney khởi công xây dựng, và người ta lấy luôn tên ông để đặt cho nó. Công viên Walt Disney rộng 30 ha, được mở rộng vào năm 1955. Trong công viên, người ta đã xây và tái tạo nhiều phong cảnh hữu tình, những nhánh sông chảy giữa hai bờ lau sậy, bè gỗ thuyền hoa thế kỷ 18, rừng nguyên sinh nhiệt đới cây cối um tùm cho đến lầu các, phố cổ, sông núi... Bước vào cửa khu giải trí, du khách được một đàn chuột Mickey chạy đến đón chào và bắt tay. Trong khu giải trí Disney còn có hơn 50 khu vui chơi điện khí hóa như thế giới ảo, thế giới mạo hiểm, thế giới tương lai. Từ khi hoạt động đến nay, trung bình mỗi năm khu giải trí Walt Disney đã đón khoảng 20 triệu khách đến tham quan. Không ít nhà lãnh đạo cao cấp, các nhân vật quan trọng và nhân sĩ nổi tiếng thế giới cũng đến nơi đây giải trí.

Ngoại ô Tây Bắc Los Angeles là thành phố điện ảnh Hollywood, nơi xưa kia là xóm làng của những người chăn dê. Năm 1887, một ngôi biệt thự được xây dựng và được đặt tên là Hollywood. Thời tiết nơi đây dễ chịu, số ngày nắng trong năm nhiều hơn (khoảng 300 ngày), lại có đủ cảnh quan địa lý khe núi, đồng bằng, bãi biển, sa mạc... nên rất thích hợp cho việc quay phim. Vì thế, một số công ty điện ảnh miền Đông nước Mỹ ồ ạt đến xây dựng phim trường. Năm 1982, sau khi bộ phim đầu tiên Cảnh đêm ở New York được quay xong, Hollywood nhanh chóng trở thành trung tâm điện ảnh toàn nước Mỹ. Thành phố điện ảnh Hollywood có trên 180 trường quay, với hầu hết bối cảnh của toàn thế giới. Những phim được sản xuất tại đây chiếm tới 2/3 số lượng phim toàn nước Mỹ, vì thế, người ta gọi Hollywood là "kinh đô điện ảnh thế giới".

Los Angeles còn có nhiều điểm du lịch hút khách khác. Công viên hóa thạch là một khu cây cảnh được thiết kế rất khéo léo. Nó được xây dựng trên đồi của hồ Guliging, với các hóa thạch như hổ răng kiếm, khỉ lười tổng thống... còn tồn tại đến ngày nay. Tháp hòa bình được xây dựng nhân kỷ niệm thành phố tròn 200 năm và được coi là thủ phủ của California. Tháp cao 610 m, gần gấp đôi so với tháp Eiffel ở thủ đô Paris nước Pháp. Trên đỉnh tháp có đài quan sát, đài truyền hình, cục tín hiệu vô tuyến quốc tế. Mỗi năm tháp có thể đón 10 triệu khách du lịch. Ở Los Angeles còn có sân vận động Meiguibo, với 70 hàng ghế ngồi liên tục nhau được xây dựng vào vách núi trong như cái hầm khổng lồ, chứa tới 100.000 khán giả. Đây cũng là một trong những kỳ quan kiến trúc thể thao của thế giới, nơi hằng năm tổ chức những trận chung kết bóng đá giữa các đại học, tranh giải Meiguibo của Mỹ





« Last Edit: 16 Tháng Tám, 2006, 10:53:47 PM by anacodam »

25 Tháng Bảy, 2006, 05:08:20 PM
Reply #11
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 454
  • Điểm bài viết: 6
Cairo - thành phố nghìn tháp

Nếu coi tam giác châu thổ sông Nile tươi đẹp giàu phù sa tựa như một chiếc quạt xếp màu xanh cánh trà trải rộng, thì thủ đô Cairo của Ai Cập nằm chính giữa lại giống như một viên ngọc lung linh huyền ảo, tô điểm cho chiếc quạt vốn đã xinh xắn này.



Diện tích thành phố Cairo là 214 km2, dân số khoảng 7 triệu người, tính luôn cả khu vực ngoại thành thì lên đến 13 triệu người, chiếm 1/5 dân số cả nước. Cairo là thành phố lớn nhất châu Phi, cũng là thành phố lớn nhất thế giới đạo Islam.

Lịch sử xây dựng thành phố Cairo liên quan đến việc du nhập của các dân tộc Ảrập. Năm 641, người Ảrập đánh chiếm khu vực sông Nile, xây dựng nên thành phố Cairo ngày nay. Đây chính là những nền móng ban đầu của Cairo. Năm 969, vương triều Photima Ảrập của Tunis chinh phục Ai Cập, xây dựng thêm một thành phố mới khác là Foctater nằm ở phía Bắc. Năm 973 vương triều dời đô đến đây lấy tên là Cairo. Trong tiếng Ảrập nó có nghĩa là "thắng lợi".

Khoảng giữa thế kỷ 14, Cairo phát triển nhanh chưa từng thấy, dân số lên tới 500.000 người, trở thành thành phố lớn nhất châu Phi và Tây Á lúc bấy giờ. Sau đó vài thế kỷ, Cairo trải qua nhiều bước thăng trầm, lần lượt bị người Thổ Nhĩ Kỳ, thực dân Anh - Pháp chiếm lĩnh. Năm 1922, Ai Cập trở thành vương quốc độc lập. Năm 1952, tổ chức sĩ quan do lãnh đạo Masser phát động "cuộc cách mạng tháng 7" ở đây, lật đổ vương triều Parouk, năm sau đổi thành nước Cộng hòa.

Đứng sừng sững bên bờ sông Nile, thành phố Cairo từ khi mới thành lập luôn là trung tâm chính trị của Ai Cập. Năm tháng trôi qua, tòa thành cổ ngàn năm trải qua nhiều biến cố được mọi người biết đến giờ đây đã trở thành một nơi phồn hoa đô hội nổi tiếng khắp thế giới. Hằng năm có vô số khách du lịch đến thăm quan. Mục đích đầu tiên trong chuyến viếng thăm của họ đương nhiên là kim tự tháp tiếng tăm lừng lẫy.



Kim tự tháp là lăng tẩm của Pharaon Ai Cập cổ đại, bởi dáng vẻ bên ngoài hình nón giống chữ "kim" theo tiếng Hán. Đến nay đã phát hiện cả thảy 90 tòa kim tự tháp, nhưng to lớn và hùng vĩ nhất là ba kim tự tháp thờ Giza nằm phía Tây Nam Cairo. Trong đó có tòa cao nhất chính là kim tự tháp của vương triệu thứ 4 Pharaon. Nó được xây dựng vào khoảng thế kỷ 26 trước Công nguyên. Nền tháp có hình vuông, các cạnh đáy xung quanh bốn bên dài 230 m, chiều cao ban đầu là 146 m. Tuy trải qua mấy nghìn năm bị mưa gió bào mòn nhưng đến giờ nó vẫn cao tới 137 m, bốn mặt nghiêng đối diện 4 phương Đông Tây Nam Bắc. Cả tòa nhà kim tự tháp dùng khoảng 2,3 triệu viên đá xây thành, trung bình mỗi viên nặng 2,5 tấn, viên to nhất cũng nặng đến 16 tấn. Giữa các viên đá không dùng bất cứ vật kết dính nào, nhưng nó ăn khớp vào nhau đến nỗi dù là lưỡi dao mỏng cũng không thể xuyên vào được.

Lối vào tháp ở sườn phía Bắc cao 18 m so với mặt đất, bên trong có hai con đường lát gạch nghiêng dài 100 m. Một con đường thông xuống mộ thất dưới đất, còn một đường nối liền lên mộ thất của hoàng hậu quốc vương. Mộ thất quốc vương là nơi an táng Hupu. Trên các bức tường phía Nam Bắc mộ thất, mỗi bức còn có một ngõ thông gió ra bên ngoài tháp. Năm 1889, trước khi khánh thành tháp Eiffel ở Paris, kim tự tháp Hupu được coi là công trình kiến trúc cao nhất thế giới, một mình nếm trải sương gió nắng mưa qua 5.000 năm. Nó cùng với tháp đèn của thành phố lớn Alexa, tượng thần Chous Olympia của Hy Lạp, vườn hoa trên không Babylon Iraq, tượng thần mặt trời trên đảo Hailuote, miếu thần Atenis của Thổ Nhĩ Kỳ và lăng mộ Muoslas của Halokanasu là "7 kỳ quan cổ đại lớn nhất thế giới". Kim tự tháp Hupu bỗng chốc được xếp vào hàng đầu trong 7 kỳ quan thế giới. Hiện 6 kỳ quan còn lại không còn nữa, duy chỉ có nó vẫn đứng sừng sững hiên ngang, hùng vĩ để người đời sau chiêm ngưỡng, tìm hiểu và nghiên cứu.

Hai ngọn kim tự tháp khác của Giza là lăng mộ của con và cháu Gupu Hapu là Mengkaola. Bên cạnh kim tự tháp Hapula có tôn phục một pho tượng mặt người thân sư tử cao 20 m, dài 75 m, ngoài móng sư tử mặt trước được gọt giũa bằng đá viên ra, toàn bộ tượng đá được Hapula Pharaon chạm trổ trên những viên đá lớn lộ thiên, đầu sư tử là nét mặt của Hapula Pharaon. Ở Ai Cập cổ, sư tử tượng trưng cho uy lực, tượng mặt người hình sư tử trên thực tế là khắc họa của Pharaon. Do hình dáng của nó giống như quái vật mặt người thân sư tử trong thần thoại Hy Lạp Slex nên người phương tây gọi nó là tượng đá. Tượng sư tử mặt người cùng với kim tự tháp được xem là di tích mang tính tiêu biểu nhất nền văn minh Ai Cập cổ, do đó nó trở thành biểu tượng của Ai Cập.

Vì thành phố Cairo được người Ảrập xây dựng nên trong thành nhìn đâu cũng thấy kiến trúc và văn hóa Islam. Vương triều của các triều đại đã để lại nơi đây rất nhiều nhà thờ Islam tháp nhọn và đại diện có đỉnh tròn. Tháp nhọn được gọi là tháp tuyên lễ, nơi mà mỗi ngày người tuyên lễ lên cao gọi các giáp đồ hướng về đất thánh bái lạy. Cả thành phố có hơn 1.000 nhà thờ mang nhiều màu sắc, hơn 1.000 tòa tháp nhìn giống như bầu trời đầy sao, cảnh sắc như thơ như họa, cuốn hút mọi người. Chính vì thế mà Cairo được gọi là "thành phố nghìn tháp". Tháp nhọn ở nhà thờ Islam mỗi thời đại đều có phong thái khác nhau: tháp của vương triều Patimah thế kỷ 10-12 hùng hồn mang phong cách thuần phác cổ xưa; tháp của vương triều Aaibu thế kỷ 12-15 có đỉnh tròn theo kiểu mũ vua được chạm khắc tinh xảo; tháp của vương triều Mameluke thế kỷ thứ 13-16 trang hoàng tinh tế, cao vút uy nghi, tháp nhọn kiểu Thổ Nhĩ Kỳ thời đế quốc Aosman nhỏ và cao chót vót. Tháp nhọn thời nay còn có dáng vẻ đẹp đẽ trang nghiêm, trong đó cao nhất là tháp Cairo sừng sững trên đảo Zammalli thuộc sông Nile. Đứng trên tháp có thể trông xuống cả thành phố, trở thành biểu tượng của Cairo ngày nay.




« Last Edit: 16 Tháng Tám, 2006, 10:57:33 PM by anacodam »

25 Tháng Bảy, 2006, 05:08:35 PM
Reply #12
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 454
  • Điểm bài viết: 6
Thượng Hải - người khổng lồ Viễn Đông

Được coi là nơi hội tụ đủ ba điều kiện “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” để phát triển kinh tế, Thượng Hải trở thành thành phố hiện đại trong nửa cuối thế kỷ 19, nhờ thiết lập được quan hệ làm ăn với phương Tây. Thương nhân Anh, Pháp, Đức và Mỹ đổ tới đây kinh doanh.


Họ biến nơi đây thành đô thị sầm uất, với những chiếc máy điện thoại, nhà máy phát điện đầu tiên của châu Á, đồng thời trở thành thiên đường của ma tuý, những ông trùm, nhà thổ và những tay nhà giàu có “tiền tấn”. Những người ngoại quốc còn đem đến đây đặc sản của đất nước họ. Ngày nay, người Thượng Hải có bánh sừng bò, bánh bao Pháp, súp Nga trong thực đơn thường nhật.

Hình ảnh “con điếm phương Đông” của Thượng Hải dần thay đổi sau năm 1949, khi những cửa hàng sang trọng và sàn nhảy được thay thế bằng cửa hàng bao cấp nhà nước. Văn hoá ẩm thực của thành phố này cũng đơn điệu dần, khi các món ăn phương Tây chỉ còn thịt bò Kobe và tôm hùm.

Ngày nay, Thượng Hải trở thành một trung tâm kinh tế phát triển nhộn nhịp nhất thế giới. Người ngoại quốc lại đổ về đây để tìm kiếm vận may và cảng Thượng Hải cũng là hải cảng sầm uất bậc nhất. Trong 13 năm liên tục, thành phố này duy trì tốc độ phát triển hai con số. Cảnh hoang tàn bên bờ Đông sông Hoàng Phố biến thành trung tâm tài chính Pudong. Với hơn 2.000 toà nhà chọc trời, Thượng Hải trở thành “thành phố thẳng đứng” chứ không còn là “thành phố lùn” của thập niên 1930, nhờ công của các thương nhân Do Thái hoặc người gốc Syria như Sassoon và Kadoorie. Ngày nay, mọi người chỉ biết đến ông qua tên salon chăm sóc tóc Vidal Sassoon.

Các đầu bếp và thương nhân từ Anh, Singapore, Australia, Mỹ và nhiều quốc gia khác đã đổ về Thượng Hải, theo chân những ông chủ nhà băng và môi giới chứng khoán. Ngoài đặc sản Trung Hoa, thực khách được phục vụ đủ các món Italy, Nhật, Thái Lan, Đức và Mexico. Thượng Hải là một trong những “cái nôi” ẩm thực của Trung Quốc, cùng với Bắc Kinh, Quảng Châu, Tứ Xuyên và Hồ Nam.

Ngoài văn hoá ẩm thực, Thượng Hải còn hút khách nhờ “lá phổi xanh” - những công viên và hàng nghìn cây xanh trong khu tô giới Pháp trước đây, những bảo tàng nghệ thuật độc đáo, những ngôi biệt thự và cao ốc đẹp lộng lẫy.

Trong quá trình hiện đại hoá, nhiều toà nhà cổ của Thượng Hải bị san bằng, nhường chỗ cho những công trình mới. Ngày nay, "Paris của phương Đông" là thành phố công nghiệp lớn nhất Trung Quốc, với diện tích 5.800 km2, dân số 18,7 triệu người. Khu phức hợp du lịch - kinh doanh và mua sắm tập trung ở quảng trường Nhân dân và dọc sông Hoàng Phố.
« Last Edit: 16 Tháng Tám, 2006, 10:58:43 PM by anacodam »

25 Tháng Bảy, 2006, 05:08:49 PM
Reply #13
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 454
  • Điểm bài viết: 6
Budapest hòn ngọc bên dòng song Danube

Sông Đanuýp chảy qua đồng bằng châu Âu và dọc theo đôi bờ của nó có rất nhiều thành phố xinh đẹp, trong đó nổi bật nhất là Buđapét-thủ đô của Hunggari, nơi được mệnh danh là hòn ngọc của dòng Đanuýp. Sự kết hợp hài hòa giữa quá khứ và hiện tại đã đem đến cho thành phố này một vẻ đẹp đa dạng. Trên vùng gò đồi tuyệt đẹp phía tả ngạn sông Đanuýp là quần thể các di tích văn hóa cổ. Còn phía đối diện là những công trình hiện đại, tráng lệ. Ta hãy bắt đầu chuyến tham quan Buđapet từ núi Pháo Đài. Vùng đất này được hình thành từ thế kỷ 15. Tại đây, trên quảng trường mang tên Thánh Ba ngôi có đài tưởng niệm những người đã chết vì bệnh dịch hạch hồi đầu thế kỷ 18 và ngôi đền Machiasa rất nổi tiếng. Kế đó là pháo đài Ngư phủ. Từ đây du khách có thể chiêm ngưỡng bức tranh phong cảnh ngoạn mục hai bên dòng Đanuýp. Phía nam núi Pháo Đài là quần thể cung điện Hoàng gia đồ sộ được xây dựng cách đây 7 thế kỷ. Ngày nay nhiều tòa nhà ở đây được sử dụng làm bảo tàng, trong đó có Viện bảo tàng Quốc gia, nơi lưu giữ những tác phẩm của các họa sĩ và nhà điêu khắc nổi tiếng nhất Hunggari thế kỷ 19-20.

Từ sân thượng của Viện bảo tàng này, nhìn chếch về phía nam ta sẽ nhìn thấy ngọn Hellert. Vào năm 1850, người ta đã xây dựng một hệ thống thành lũy trên đỉnh núi này để bảo vệ thủ đô. Còn ngày nay, công trình này đã trở thành các nhà hàng, tiệm cà phê phục vụ du khách. Dưới chân núi Hellert có một hệ thống nhà tắm được xây dựng ngay tại nguồn suối nước nóng. Nói chung, Buđapét có rất nhiều suối nước nóng với các khu nhà tắm chữa bệnh, trong đó nổi tiếng nhất phải kể đến khu Xetreni ở công viên Varoslighet được xây dựng từ năm 1913. Varoslighet cũng là nơi dạo chơi được du khách ưa thích. Tại đây, bên bờ một chiếc hồ nhân tạo, vào năm 1896 người ta đã xây một quần thể gồm 21 công trình thể hiện các phong cách kiến trúc đặc trưng của Hung. Còn mặt hồ, mùa hè là nơi để lướt ván, mùa đông thì trở thành sân trượt băng nghệ thuật. Cũng trong công viên này còn có một vườn sinh vật với các loài chim, thú được sống trong một môi trường gần như hoang dã.

Phía tây công viên Varoslighet là quảng trường Những người Anh hùng, nơi có đài kỷ niệm 1000 năm Hunggari với hàng cột xếp thành hình bán nguyệt và những bức tượng các nhân vật lịch sử nổi tiếng. Tại quảng trường này còn có Bảo tàng nghệ thuật tạo hình trưng bày các tác phẩm nghệ thuật quý của Ai Cập, Hy Lạp, La Mã cổ đại cũng như của châu Âu hiện đại. Buđapét có 2 cầu đường sắt và 7 cầu đường bộ bắc ngang qua sông Đanuýt đều là những công trình kiến trúc nổi tiếng. Nằm ngay trên dòng Đanuýt, giữa hai cây cầu Marghit và Arpad là hòn đảo Marghid, một điểm nghỉ mát lý tưởng của thủ đô. Trên diện tích khoảng 1,2 km2 của hòn đảo này có hai khách sạn sang trọng, nhiều nhà hàng, quán cà phê, một bãi tắm, một khu vườn Nhật Bản xinh xắn và một nhà hát. Đối diện đảo Marghit, trên bờ tây Đanuýt là Obuđa, khu phố cổ nhất thủ đô với những ngôi nhà kiểu xưa, những ngõ hẹp với các quán ăn nhỏ.

Một trong những đường phố nổi tiếng nhất của Buđapét là phố Vaxi. Ban ngày nơi đây là nơi trung tâm mua bán sầm uất, nhưng ban đêm lại là chốn vui chơi với khoảng 30 nhà hát (trong đó có 2 nhà hát opera). Ngoài ra còn nhiều khu giải trí, nhà hàng, hộp đêm, sòng bạc... hoạt động thâu đêm. Các nhà hàng ở Buđapét sẽ phục vụ bạn các món ăn nổi tiếng kiểu Hung với rất nhiều gia vị. Ngoài ra, bạn cũng có thể ghé vào các nhà hàng mang phong cách Âu, Viễn Đông hoặc các quán điểm tâm Mỹ đang phát triển mạnh ở Buđapét.



« Last Edit: 16 Tháng Tám, 2006, 10:59:34 PM by anacodam »

25 Tháng Bảy, 2006, 05:09:02 PM
Reply #14
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 454
  • Điểm bài viết: 6
Prague-Thành phố vàng của châu Âu

Cộng hòa Czech (có diện tích 78.864km², dân số khoảng 11 triệu người) nằm giữa trung tâm châu Âu, rất nổi tiếng thế giới với những sản phẩm trang sức bằng pha lê cũng như những di sản văn hóa được UNESCO công nhận như thành phổ cổ Kutna, nhà thờ tôn giáo St John Nepomuk, làng Holasovice... và đặc biệt là thành phố thủ đô Prague


Là thủ đô của nước Cộng hòa Czech từ tháng mười năm 1918, Prague nổi tiếng bởi vẻ đẹp lung linh huyền bí. Mọi người gọi thành phố bằng nhiều cái tên như "Thành phố vàng" (the Golden City). "Thành phố của những hình chóp" (the City of a Hundred Spires) hay "Mẹ của những thành phố" (the Mother of Cities).

Prague hấp dẫn khách du lịch nhờ sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc cổ và hiện đại. Những tòa nhà, lâu đài cổ kính như Tòa thị chính, Lâu đài Prague, Nhà thờ Đức Mẹ, những quán rượu, phòng tranh, phòng hòa nhạc... nằm xen lẫn với khung cảnh thiên nhiên thơ mộng bên dòng sông Vitava.

Thành phố thủ đô này còn nổi tiếng bởi những di vật có giá trị như chiếc đồng hồ Thiên văn từ thế kỷ XV, những pho tượng thời trung cổ, và chứng tích 12.000 bia mộ trong nghĩa trang của người Do Thái. Prague còn được xem như "Trường âm nhạc châu Âu" Vào tháng năm hàng năm, Prague lại sôi động bởi lễ hội âm nhạc với nhiều chủ đề khác nhau. Sự kiện này thu hút rất nhiều nhạc sĩ, những người yêu nhạc và khách du lịch từ khắp mọi nơi trên thế giới. Đến đây du khách không chỉ được thưởng thức những bản nhạc nổi tiếng của các thiên tài như Mozat, Beethoven, Geothe, Casanova... mà còn dạo chơi trên các con đường nhỏ trong khu phố cổ, ngắm nhìn thành phố về đêm trên những con thuyền trôi dọc sông Vitava hay trên cầu Charle nổi tiếng nối liền lâu đài Prague với khu phố cổ. Hãy đến để thư giãn và cảm nhận hết vẻ đẹp cùng không khí yên bình của thành phố có một không hai trên thế giới này


« Last Edit: 16 Tháng Tám, 2006, 11:01:29 PM by anacodam »