Please login or register.

Login with username, password and session length

Author Topic: Vai trò của hoocmon với thực vật  (Read 53561 times)

25 Tháng Bảy, 2006, 11:38:00 AM
  • Tổng biên tập Olympeek
  • MODERATOR
  • ****
  • Posts: 663
  • Điểm bài viết: 13
  • Đội phó Pro8 Team
cavang

Chào các bạn, đây là lần đầu tiên tui post bài lên
ở bài này chúng ta sẽ xem thử tác dụng của hoocmon dối với thực vật.

1.1 Sự phân chia tế bào

Sự phân chia tế bào chỉ xảy ra ở mô phân sinh. Có ba loại mô phân sinh chính là mô phân sinh chính ở đầu cành, mô phân sinh lóng ở giữa các dốt cây họ Lúa và mô phân sinh tầng phát sinh ở giữa libe và gỗ.

Sự phân chia tế bào liên tục trong các mô phân sinh sẽ dẫn đến làm tăng số lượng của tế bào rất nhanh trong cây, vì trong mỗi cây số lượng mô phân sinh rất nhiều (đầu cành, đầu rễ, giữa các đốt, tầng phát sinh...)
Mỗi tế bào mẹ khi đạt kích thước nhất định sẽ phân chia ra hai tế bào con bằng Sau đó mỗi tế bào con lớn lên bằng kích thước tế bào mẹ thì bắt đầu phân chia. Cứ thế mà số lượng tế bào tăng lên rất nhanh chóng.
Điều quan trọng nhất cho giai đoạn này tiến hành được là nhất thiết phải có mặt của xytokinin. Xytokinin sẽ hoạt hoá sự phân chia tế bào bằng cách kích thích sự tổng hợp mạnh mẽ axit nucleic, protein và các chất cần thiết cho kinetin hoặc benzyladenin vào môi trường hoặc nước dừa cũng có nguồn xytokinin tự nhiên phong phú. Trên cây nguyên vẹn thì sự phát triển mạnh mẽ của bộ rễ sẽ quyết định sự đâm chồi nảy lộc.

25 Tháng Bảy, 2006, 11:39:00 AM
Reply #1
  • Tổng biên tập Olympeek
  • MODERATOR
  • ****
  • Posts: 663
  • Điểm bài viết: 13
  • Đội phó Pro8 Team
ADNuv

Lại là chuyên gia về Sinh lý thực vật đây, hehe.
E hèm, cái topic ni cũng được đấy. Mình cũng mún đóng góp vài bài góp zui.
Ừm, "vai trò của hoocmon đối với thực vật", trước tiên chúng ta cần làm rõ hoocmon thực vật là cái chi chi đã, và những loại hoocmon quan trọng thường "thấy".

HOOCMÔN THỰC VẬT:
1. Khái niệm chung:
hoocmon thực vật (HMTV) hay phytohoocmon là các chất hữu cơ do bản thân cây tiết ra có tác dụng điều hòa hoạt đông của cây.
HMTV có những đặc điểm chung sau:
- Là những hợp chất hữu cơ phân tử lượng thấp được tạo ra ở một nơi nhưng gây ra phản ứng trong TB hoặc mô ở một nơi khác trong cây.
- Với nồng độ thấp nhưng gây ra những biến đổi mạnh mẽ trong cây.
- Trong cây, HMTV được vận chuyển theo mạch gỗ và mạch libe.
Tùy theo mức độ biểu hiện tính kích thích hay tính ức chế sinh trưởng, các HMTV được chia thành hai nhóm là hoocmon kích thích và hoocmon ức chế sinh trưởng.
2. Các loại HMTV:
Vì phần nầy khá nhiều vấn đề, và những tài liệu mình có khá hỗn độn, nên mình chỉ nêu sơ qua thui ha, từ từ mình sẽ trình bày chi tiết nha.
a. hoocmon kích thích sinh trưởng: AUXIN (aixit-3-Inodolaxetic), GIBÊRELIN (GA), XITÔKININ...
b. hoocmon ức chế sinh trưởng: AUXIN (nồng độ cao), ETYLEN, AIXIT ABXIXIC (AAB)...
Đó là những nhóm HMTV cơ bản cần chú ý. Tác dụng và cơ chế tác động cụ thể của chúng như thế nào, bà con... đợi hồi sau sẽ rõ, hihi.
« Last Edit: 25 Tháng Bảy, 2006, 11:40:31 AM by neyuki »

25 Tháng Bảy, 2006, 11:41:41 AM
Reply #2
  • Tổng biên tập Olympeek
  • MODERATOR
  • ****
  • Posts: 663
  • Điểm bài viết: 13
  • Đội phó Pro8 Team
cavang
1.2 Sự dãn của tế bào
sự phân chia tế bào chỉ mới tăng lên về mặt số lượng tế bào, còn sự lớn lên của cơ quan và của toàn cây lại phụ thuộc vào sự tăng kích thước của tế bào nhờ giai đoạn giãn của tế bào tiếp sau sự phân chia của chúng.
Kích thước tế bào trong giai đoạn nàytăng rất nhanh cả về chiều ngang và chiều dọc. Không bào xuất hiện và lớn dần chiếm hầu hết thể tích của tế bàotạo điều kiện cho tế bào dãn nhanh chóng.
Điều kiện tối cần thiết cho sự dãn tế bào là sự kích thích của các phytohoocmon. Hai hoocmon có vai trò quan trọng trong giai đoạn này là auxin và gibberellin (GA). Cả hâi đều kích thích sự dãn nở của thành tế bào và tăng kích thước của tế bào. Tuy nhiên, auxin kích thích sự dãn nở tế bào chủ yếu theo chiều ngang, còn gibberellin thì có xu hướng kích thích sự dãn nở của tế bào theo chiều dọc. Sự có mặt và cân bằng giữa hai hoocmon đólà điều kiện cần thiết cho sự dãn tế bào cân đối và cây sinh trưởng bình thường. Nếu cân bằng lệch về phía GA thì cây sẽ sinh trưởng chiều cao mạnh hơn.
Ngoài ra những điều kiện ngoại cảnh như nước, nhiệt đọ ,dinh dưỡng... là tối cần thiết cho sự dãn nở của tế bào.
1.3 Sự phân hoá tế bào và cơ quan
Sau khi qua giai đoạn dãn, tế bào bắt đầu phân hoá thành các mô chức nẳngiêng biệt, đảm nhận các chức phận sinh lí khác nhaucủa cây như mô dậu làm nhiệm vụ quang hợp, mô dẫn làm nhiệm vụ dẫn truyền, mô bì làm nhiệm vụ che chở, mô nhu có chức năng dự trữ... các con đường phân hoá khác nhau dẫn đén sự hình thành các cơ quan khác nhaucủa cây như sự hình thành rễ, hình thành chồi ,hoa...
UTrong quá trình phân hoá tế bào và cơ quan, vai trì điều chỉnh của phytohoocmon là rất quan trọng. Auxin quyết định sự phân hoá rễ và có khi người ta xem auxinnhư là hoocmon hình thành rễ. Còn sự phân hoá chồilại quyế định bởi xytokinin. Hàm lượng xytokinin càng nhiều thì sự phát sinh chồi càng mạnh mẽ.Do đótrong chừng mật nhất định, nhìn sự sinh trưởng của cây có thể dự đoán được cây thừa hay thiếu xytokinin. Sự cân bằng của auxin và xytokinin trong cây cũng quyết định sự sinh trưởng của cây ở mức nào giũa cơ quan trên mặt đất và dưới mặt đất.
 
1.4 Ứng dụng chất điều hoà sinh trưởngđể điều chỉnh sự sinh trtưởng của tế bào và sự phân hoá các cơ quan.
1.4.1 Sử dụng GA để tăng chiều cao

Một số cây trồng lấy sợi như đay, cũng như mía thì chiều cao của cây có ý nghĩa quyết định đến năng suất của chúng. Để kích thích sự tăng trưởng về chiều cao người ta phun GA cho cây. Ví dụ : với đay, người ta phun với nộng độ 20-50 ppm vài lần cho ruộng đay thì cóthể làm chiều cao cây đay cao gấp đôi (từ 2m có thể cao đến 4-5m ) mà chất lượng sợi đay không kém hơn. Khi cây cao được 50 cm thì bắt đầu phun, phun ba lần, mỗi lần cách nhau 10-15 ngày. Đối với mía, khi xử lý GA với nộng độ từ 10-100 ppm đã kích thích sự kéo dài của các đốtlàm tăng chiều cao và tăng năng suất của ruộng mía. Điều đáng quan tâm là khi xử lý bằng GA thì tỉ lệ đường cũng tăng lên rõ rệt. Chẳng hạn nếu phun 3 lần cách nhau 2-4 tuần thì sản lượng đường tăng lên 25% so với đối chứng.
1.4.2 Sử dụng GA để tăng sinh khối, tăng năng suất cho rau quả...
Với cây rau thì việc tăng sinh khối có ý nghĩa quan trọng. Để đạt được điều đó, người ta thường phun chất kích thích tăng trưởng đặc biệt là GA , vì GA kích thích sự dãn của tế bào rất mạnh và hoàn toàn không gây độc vì nó là sản phẩm tự nhiên (phytohoocmon). Nồng đọ sử dụng của GA trong trường hợp này là dao dộng trong khoảng 20-100 ppm. Chẳng hạn người ta có thể phun GA cho rau bắp cải, cà rốt, rau cải... có thể cho năng suất rất cao.
Rau cải:
- Với cải trắng khi cây bén rễ sau cấy có thể phun GA ở nồng đọ 20 ppm. Phun ba lần mỗi lần cách 2 ngày. Một tháng sau lại tiếp tục phun ba lần tương tự, sẽ làm tăng sinh khối rau rõ rệt.
- Đối với một số loại rau cải xanh có thể phun trước thu hoạch 2 tuần ở nồng đọ 50-199 ppm (phun 2 lần ). Tăng năng suất rõ rệt. Cũng có thể phun khi cây mới có 5-6 lá, phun 2-3 lần với nồng độ 20-30 ppm.
Giá đậu:
-Để làm nảy mầm đều, tăng năng suất giá đậu, có thể ngâm hạt một đêm trong dung dịch GA 10 ppm.
Nho:
Một trong những hướng quan trọng là làm tăng kích thước của các loại quả, tăng năng suất thu hoạch bằng cách sử dụng các chất kích thích sinh trưởng. Đối tượng được sử dụng nhiều nhất là nho. Việc phun GA là biện pháp phổ biếnvà rất có hiệu quả đã làm tăng năng suất nho lên gấp bội, và cải thiện được phẩm chất.
* Vào cuối thời kì hoa rộ, khi quả non hình thanh được 7-10 ngày, dùng máy phun điểm dung dịch 50-100 ppm GA vào chùm quả làm quả lớn nhanh, tăng sản gấp đôi nâng cao hàm lượng đường glucozơ, tăng phẩm chất quả xuất quả xuất khẩu.
*Cũng có thể phun vào lúc sau hoa rộ 7-10 ngày, phun GA ở nồng độ 100-2000 ppm vào chùm hoa có thể làm cho 60-90% quả không hạt, mỏng vỏ, chín sớm hơn 7-15 ngày.
Trong nhiều trường hợp người ta sử dụng cả alar (500-2000 ppm) cho nho,táo, lê... cũng mang lại hiệu quả tương tự.
1.4.3 Sử dụng auxin vàg kytokinin để điều khiển sự phát sinh cơ quan (rễ, chồi) trong nuôi cấy mô
Trong kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thì viẹc ứng dụng các chất điều hoà sinh trưởng là hết sức quan trọng. Hai nhóm chất được sử dụng nhiều nhất là auxin (quyết định hình thành rễ) và xytokinin (quyết định hình thành chồi).
Để nhân nhanh invitro, trong giai đoạn đầu cần phải điều khiển mô nuôi cấy phát sinh thật nhiều chồi để tăng hệ số nhân. Vì vậy người ta tăng nồng độ xytokinin trong môi trường nuôi cấy.
Để tạo cây hoàn chỉnh đưa ra đất người ta tách chồi và cấy vào môi trường ra rễ trong đó hàm lượng auxin được tăng lên . Như vậy , sự cân bằng auxin và xytokinin trong môi trường nuôi cấy quy định sự phát sing ra rễ hay chồi.
Auxin được sử dụng là IAA, 2.4D, anpha-NNA. Còn xytokinin có thể là kinetin, BA hoặc nước dừa... Nồng độ và tỉ lệ của chúng phụ thuộc vào các loài khác nhau, các giai đoạn nuôi cấy khác nhau...
1.4.4 Ứng dụng của CCC và các Retardant để ức chế chiều cao siinh trưởng của cây , chống lốp đổTrong một số trường hợp, sự sinh trưởng chiều cao thân lá sẽ không có ích và nguy cơ dẫn đến lốp đổ nhất là trên nền thâm canh cao. Trong những trường hợp như vậy, nếu hạn chế sự sinh trưởng của các cơ quan trên mặt đất, làm thấp cây, cứng cây sẽ điều chỉnh được mối quan hệ tốt đẹp giữa cấc cơ quan trên và dưới mặt đất có thể làm tĂng năng suất và phẩm chất.
CCC là một chất kháng gibberellin, nên khi sử dụng sẽ ức chế sự sinh trưởng chiều cao của cây. Đối các cây họ lúa việc chống lốp đổ cho chúng sẽ rất có ý nghĩa. Việc sử dụng CCC tăng tính chống đổ, làm laùn và cứng cây, là một biện pháp khá phổ biến đối với các nước trồng lúa mỳ, lúa mạch. Nếu sử dụng 10 kg CCC cho 1ha có thể làm tăng 30% năng suất hạt của lúa mỳ. Với lúa, các thí nghiệm đồng ruộng tiến hành ở Ôxtrâylia khẳng định rằng CCC đã làm tăng tính chống đổ cho lúa , tăng năng suất hạt mà không làm ảnh hưởng đến chất lượng hạt. Sử dụng phối hợp giữa CCC và phân nitơ (đạm) đã tăng hiệu quả sử dụng phân đạm lên nhiều.


CHÚ Ý :chữ anpha là ký hiệu anpha của chữ đó trong toán đó

25 Tháng Bảy, 2006, 11:44:07 AM
Reply #3
  • Tổng biên tập Olympeek
  • MODERATOR
  • ****
  • Posts: 663
  • Điểm bài viết: 13
  • Đội phó Pro8 Team
2. Sự nảy mầm của hạt củ
2.1 Sự ngủ nghỉ của hạt, củ và vai trò của phytohoocmon
Trong đời sốngcủa cây, có lúc cây sinh trưởng nhanh, có lúc cây sinh trưởng chậm thậm chí có lúc cây ngừng sinh trưởng và bước vào giai đoạn ngủ nghỉ.
Sự ngủ nghỉthường xảy ra với các loại hấtu khi chín, các loại củ,căn hành cũng như các chồi ngủ...
Người ta phân thành hai loại ngủ nghỉ dựa theo nguyên nhân gây nên ngủ nghỉ. Trạng thái ngủ nghỉ bắt buộc do điều kiện ngoại cảnh gây nên. Khi gặp điều kiện ngoại cảnh không thuận lợicho sinh trưởng thì chúng bước vào trạng thái ngủ, nghỉ và khi nào gặp điều kiện thuận lợi chúng lại nảy mầm ngay. Ví dụ hạt lúa sau khi gặt phơi khô (chỉ còn 12-14% độ ẩm) thì hạt thóc sẽ ngủ nghỉ. Nhưng nếu ngâm vào nước thì chúng nảy mầm ngay được.
Trạng thái ngủ nghỉ thứ hai có ý nghĩa hơn là sự ngủ nghỉ sâu. Sự ngủ nghỉ này không phải do nguên nhân ngoại cảnh mà chủ yéu là câc nhân tố ngoại tại và trải qua quá trình lâu đời đã trở nên đặt tính di truyền. Ví dụ các loại hạt có vỏ cứng phải ngủ nghỉ rất lâu mới có thể nảy mầm được; củ hành, củ tỏi khi thu hoạch xong trồng không thể nảy mầm được...
Nguyên nhân quan trọng nhất quyết định sự ngủ nghỉ này là thuộc về các phytohoocmon mà trong đó vai trò của các chất ức chế sinh trưởng là rất quan trọng. Trong hạt và củ đang ngủ nghỉ,chúng tích luỹ một hàm lượng rất caochất ức chế sinh trưởng mà chủ yếu là axít abxixic (ABA), và đồng thời hàm lượng các chất kích thích sinh trưởng chủ yếu là GA giảm đến mức tối thiểu, khiến cho phôi hạt không thể sinh trưởng được. Như vậy, sự cân bằng giữa ABA / GA lệch sang ABA. Hạt, củ này sẽ còn ngủ nghỉ đến chừng nào hàm lượng ABA trong chúng giảm xuống mức độ cho phép chúng sinh trưởng được thì mới nảy mầm. Do vậy mà cần có thời gian để giảm hàm lượng ABA và tăng hàm lượng GA. Thời gian này dài ngắn tuỳ theo loài và trạng thía của cơ quan.
Ngoài ra, vỏ hạt cứng, vỏ củ hoá bần, kém thấm nước nhiều khi cũng là nguyên nhân gây nên sự ngủ nghỉ của chúng.
Có thể chia sự ngủ nghỉ của hạt và củ ra ba pha : pha cảm ứng được đặc trưng bằng sự biến đổi cân bằng hoocmon theo hướng giảm nhanh hàm lượng chất kích thích sinh trưởng (chủ yếu là GA) và tăng nhanh hàm lượng chất ức chế sinh truởng (chủ yếu là ABA). Trong pha duy trì , sự cân bằng hoocmon lệch hẳn sang ABA và sự trao đổi chất trong chúng là không đáng kể.Trong pha kết thúc có sự biến đổi cân bằng lượng ABA và tăng hàm lượng GA trong chúng đến mức chúng có thể này mầm được


2.2 Sự nảy mầm của hạt,vai trò của hoocmon
Sự nảy mầm của hạt là giai đoạn bắt đầucủa một chu kì sống mới. Sự nảy mầm của hạt là một quá trình biến đổi hết sức sâu sắc về sinh hoá và sinh lý trong chúng.
Khi trong hạt hàm lượng ABA giảm xuống mức tối thiểu và quá trình tổng hợp GA mạnh lên thì phôi hạt bắt đầu sinh trưởng.
Q1úa trình biến đổi dẫn đến nảy mầm của hạt cây họ lúa được mô tả như sau: Khi hạt hút ẩm thì trong phôi hạt xảy ra mạnh mẽ quá trình tổng hợp GA làm hàm lượng GA tăng nhanh trong phôi hạt. GA sẽ khuếch tán vào lớp aleuron của hạt, tại đấy GA hoạt hoá sự tổng hợp nên các enzim thuỷ phân , đặc biệt là anpha-amilaza. Enzum thuỷ phân sẽ nội nhũ, nó xúc tác các phản ứng thuỷ phân. Ví dụ, anpha-amilaza xúc tác cho tinh bột biến thành đường điwn làm nguyên luệi cho quá trình nảy mầm của hạt.
Vì vậy, muốn xúc tiến quá trình nảy mầm của hạt, củ thì tìm cách làm tăng hàm lượng GA trong chúng.
 
 
 

25 Tháng Bảy, 2006, 11:45:27 AM
Reply #4
  • Tổng biên tập Olympeek
  • MODERATOR
  • ****
  • Posts: 663
  • Điểm bài viết: 13
  • Đội phó Pro8 Team
cavang
2.3 Ứng dụng GA để pha ngủ, kích thích nảy mầm của hạt, củ
Để phá bỏ sự ngủ nghỉ của hạt, củ, căn hành thì về nguyên tắc phải làm thay đổi cân bằng của ABA / GA theo hướng giảm ABA xuống tối thiểu hoặc tăng GA lên. Còn muốn kéo dài thời kì ngủnghỉ trong bảo quản thì làm thay đổi cân bằng trên theo hướng ngược lại mà chủ yếu là bổ xung chất ức chế sinh trưởng.
Để phá ngủ, người ta thường xử lí GA. GA xâm nhập vào hạt, củ sẽ làm thay đổi sự cân bằng hoocmon thuận lợi cho sự nảy mầm. Chúng ta ngâm hạt, củ (hoặc phun) bằng dung dịch GA với nồng độ 2 - 5 ppm trong thời gian nhất định, sau đó ủ ẳm và ắm thì có thể làm cho hạt, củ nảy mầm được. Ngoài GA người ta còn sử dụng rất nhiều hợp chất hoá học khác nhau để phá ngủ kể cả các chất vô cơ như axit nitric, sunphuric.
Ví dụ như quy trình phá ngủ tổng hợp cho khoai tây vừa mới thu hoạch vụ đông để tạo củ giống trồng vụ xuân. Quy trình này gồm hai giai đoạn : - công đoạn đầu, khoai tây vùa thu hoạch được phun dung dịch GA và thioure vài lần, cho GA và thioure thấm vào củ. - công đoạn thứ hai, tiếp theo khoai tây dược dưa xuống hầm đất kín dể xử lí khí CS2 hoặc khí rindit trong 3- 4 ngày. Sau đó ủ ẩm và ấm thì có thể làm khoai tây vừa thu hoạch nảy mầm trên 90% trong 7- 10 ngày, có thể trồng kịp thời vụ. Quy trình này đã áp dụng thành công nhiều năm trên quy mô sản xuất. Đây là một quy trình phá ngủ có hiệu quả nhất và dễ triển khai trong sản xuất, được sản xuất chấp nhậ. Việc trồng thêm vụ khoai tây xuân nhờ kỹ thuật phá ngủ khoai tây đã làm tăng hệ số nhân giống khoai tây và làm trẻ hoá củ giống, vì thời gian bảo quản ngắn, cải thiện được chất lượng củ giống, chống lại sự thoái hoá giống khoai tây do thời gian bảo quản dài trong điều kiện nhiệt độ cao của mùa hè.
Trong kho bảo quản, nhiều trường hợp cần thiết phải kéo dài thời kì ngủ nghỉ. Để kéo dài kì ngủ nghỉ của khoai tây người ta thường sử dụng chất ức chế sự nảy mầm như MH (malein hydrazit) hoặc NENA (methyl este của anpha = NAA). Phun MH với liwwù lượng 2,5 kg/ha cho khoai tây trước thu hoạch 12 - 15 ngày sẽ làm giảm sự hao hụt trong bảo quản ( 8 tháng). Lượng hao hụt chỉ bằng 1/2 so với đối chứng không xử lí. Trong bảo quản hành tỏi, chống tóp, chống nảy mầm người ta có thể xử lí MH với nồng độ 500 -2500 ppm.


2.4 Sử dụng GA để tăng chất lượng của malt bia trong việc sản xuất bia
GA kích thích sự nảy mầm của hạt mỳ, mạch, lúa, ngô... làm tăng hàm lượng và hoạt tínhcủa men thuỷ phân tinh bột. Vì vậy từ lâu người ta đã sử dụng GA để sản xuất malt bia tù đại mạch. Việc cộng thêm 1 - 3 mg GA cho 1 kg đại mạch vào giai đoạn đầu của sự nảy mầm sẽ làm nanh quá trìng malt hoá nguyên l iệu lên 1,5 lần.

26 Tháng Bảy, 2006, 08:33:18 AM
Reply #5
  • Team Olympeek
  • OLYMPIAN
  • **
  • Posts: 121
  • Điểm bài viết: 2
  • |..learning to fly...|
3. Hiện tượng ưu thế ngọn và vai trò của hoocmon
3.1 Hiện tượng ưu thế ngọn ở thực vật
Trong mối tương quan giữa các cơ quan trong cơ thể thì có những mối tương quan kích thích, nhưng cũng có những tương quan ức chế lẫn nhau. Ưu thế ngọn là sự tương quan ức chế mà trong đó chồi ngọn hoặc rễ chính sinh trưởng sẽ ức chế sự sinh trưởng của chồi bên hoặc rễ phụ. Nếu loại bỏ chồi ngọn thì chồi bên sẽ thoat khỏi sự ức chế và lại sinh trưởng bình thường.
Nguyên nhân chính gây nên hiện tượng ưu thế ngọn là do hoocmon sinh trưởng quyết định. Hai phytohoocmon điều chỉnh hiện tượng ưu thế ngọn là auxin làm tăng ưu thế ngọn, còn xytokinin làm yếu ưu thế ngọn. Auxin được sản sinh ở đỉnh sinh trưởng ngọn với hàm lượng khá cao và khi vận chuyển xuống dưới đã gây ảnh hưởng ức chế lên chồi bên. Do đó càng xa đỉnh ngọn hàm lượng auxin càng giảm và hiện tượng ưu thế ngọn cũng yếu dần và các cành bên được sinh trưởng. Ngược lại xytokinin được sản sinh trong hệ thống rễ và lại được vận chuyển lên các cơ quan trên mặt đất để giải phóng các chồi bên khỏi sự ức chế của chồi ngọn. Sự cân bằng giữa hai loại hoocmon sinh trưởng auxin/xytokinin quyết định hiện tượng ưu thế ngọn trong cây.

3.2 Ứng dụng ưu thếngọn trong trồng trọt và nghề làm vườn
Đối với nhiều loại cây trồng như cây công nghiệp, cây ăn quả, cây cảnh, cây hoa... thì việc tạo hình, tạo tán cho chúng là cực hìquan trọng, có ý nghĩa quyết định.
Việc tạo hình, tạo tán điều dựa trên nguyên tắc loại bỏ hoặc làm yếu ưi thế ngọn, tạo điều kiện cho sự phân cành.
với hiều loại cây trồng, người ta sử dụng kĩ thuật đốn ( như với chè, dâu, táo.. ) để cảitạo lại chúng,làm tăng sức sống, tăng năng suất thu hoạch. Việc dốn cây, tức loại bỏ chồi chính sẽ tạo điều kiện cho các chồi bên mọc ra. Có hai phương pháp đốn cây là phương pháp đốn đau được tiến hành sát gốc, còn phương pháp đốn phớt được tiến hành ở phần ngọn. Sự đốn đau sẽ cho các cành sát gốc,gần với nguồn xytokinin nên sẽ ở tranghj thái non, khoẻ, lâu thu hoạch nhưng thu hoạch kéo dài. Việc đơn phớt thì sẽ phát sinh các chồi nhanh và già hơn, chóngthu hoạch nhưng chóng tàn. vì vậy nười ta thường tính toán việc xen kẽ giữâhi hình thức đốn để vừa có thu hoạch thường xuyên, vừa đảm bảo cải tạo được quần thể.
Với cây cảnh, cây thế... thì việc tạo tán, tạo hình phải tiến thành bấm ngọn, tỉa cành một cách thường xuyên để tạo được thế cây, dáng cây theo đúng yêu cầu của mình...

3.3 Sử dụng chất ức chế sinh trưởng để ức chế chồi bên, ức chế mầm hoa
Trong nghề trồng thuốc lá, sau khi xuất hiện hoa thì đồng thời ưu thế ngọn cũng bị loại trừ vì chồi hoa không còn sản sinh ra auxin nữa, do đó các chồi bên được giải phóng và mọc rất nhanh. Việc ra hoa và mọc các chồi bên là một khó khăn lớn cho nghành trồng thuốc lá vì phẩm chất thuốc lá bị giảm sút. Vì vậy trong sản xuất, người ta thường mất nhiều công sức cho việc ngất hoa và tỉa chồi nách thường xuyên rất tốn kém. Để làm giảm công lao động trong việc bấm tỉa hoa và chồi nách, người ta sử dụng chất ức chế chồi. Chất được sủ dụng có hiệu quả nhất hiện nay là MH ( malein hydrazit ). Người ta có thể phun MH nồng độ 1 - 2,5% lúc bắt đầu ra hoa ( có 90% cây xuất hiện nụ đầu tiên ) hoặc phun MH nồng độ 0,1 -0,5% cho thuốc lá sau khi đã ngắt chồi hoa. Nồng độ MH sử dụng phụ thuộc vào đặt tính giống và điều kiện thời tiết. Bằng cách đó có thể hoàn toànngăn chặn được sự mọc của chồi bên, làm tăng năng suất và có thể cải thiện được phẩm chất của thuốc lá.
Ở Mỹ có tới 90% diện tích trồng thuốc lá đã sử dụng MH vào mục tiêu này.
Ở Monđan khi phun MH nồng độ 2,5% cho thuốc lá vào gian đoạn bắt đầu ra hoa đã làm đỉnh chỉ sự mọc tiếp của chồi hoa, ức chế chồi bên, thúc đẩy lá chín nhanh, tăng năng suất 2 - 4 tạ/ha, tăng chất lượng thuốc lá, thu hiệu quả kinh tế cao.



26 Tháng Bảy, 2006, 08:36:08 AM
Reply #6
  • Team Olympeek
  • OLYMPIAN
  • **
  • Posts: 121
  • Điểm bài viết: 2
  • |..learning to fly...|
4 Sự hình thành rễ của cành chiết, cành giâm và việc nhân giống vô tính cây trồng
4.1 Cở sở của hình thành rễ bất định của cành chiết, cành giâm
Rễ bất định là những rễ được hình thành về sau này của các cơ quan dinh dưỡng như cành, thân lá... Rễ bất định có thể được hình thành ngay trên cây nguyên vẹn ( cây đa, cây si... ), nhưng khi cắt cành khỏi cơ thể mẹ là điều kiện kích thích sự hình thành rễ và người ta vận dụng để nhân bản vô tính.
Rễ bất định của hầu hết thực vật được hình thành sau khi cắt cành khỏi cây mẹ, nhưng cũng có một số loài rễ bất định được hình thành từ trước dưới dạng các mầm rễ ở trong phần vỏ và chúng nằm yên đến khi cắt cành thì ngay lập tức đâm ra khỏi vỏ. Với các đối tượng như vậy thì cành giâm, cành chiết ra rễ một cách dễ dàng. Nhưng đa số trường hợp rễ bất định được hình thành trong quá trình con người có tác động đến nó nhằm mục đích nhân giống.
Nghiên cứu nguồn gốc và quá trình xuất hiện của rễ bất định ở cành chiết, cành giâm có ý nghĩa quan trọng trong việc điều khiển sự hình thành rễ bất định trong việc nhân giống vô tính cây trồng. Có thể chia làm ba giai đoạn của quá trình hình thành rễ bất định của cành chiết, cành giâm.
- giai đoạn đầu là sự tái phân chia của mô phân sinh bên ( tầng phát sinh ) tức là ột số tế bào xảy ra sự phản phân hoá mạnh ở vùng xuất hiện rễ tạo nên một đám tế bào lộn xộn, đó là mầm mống của rễ.
- Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn xuất hiện mầm rễ.
- Giai đoạn cuối cùng là sự sinh trưởng và kéo dài của rễ, rễ chui qua vỏ để ra bên ngoài cành để tạo nên rễ bất định.
các giai đoạn này khác nhau về yêu cầu đối với auxin. Giai đoạn đầu đòi hỏi một hàm lượng auxin rất cao để khởi xướng sự phản phân hoá tế bào mạnh mẽ. nồng độ kích thích của ãuin là 10-4 - 10-5 g/cm3. Giai đoạn thứ hai cần hàm lượn auxin thấp hơn cho sự xuất hiện rễ ( 10-7 g/cm3 ), còn sự sinh trưởng của mầm rễ thành rễ thì đòi hỏi lượng auxin rất thấp ( 10-11 - 10-13 g/cm3 ) và thậm chí sự co0s mặt của auxin trong giai đoạn này còn gây hậu quả ức chế sự sinh truởng của rễ.
Nếu như quan hệ giữa auxin và sự hình thành rễ bất định là dương tính thì ngược lại xytokinin và gibberellin lại gây ức chế sự hình thành rễ bất định của cành chiết, cành giâm. ngoài ra điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rất quan trọng dến sự hình thành rễ bất định. Điều kiện cần thiết là : độ ẩm bão hoà, ánh sáng tán xạ, nhiệt dộ 20 -30oC...
nghiên cứu cơ sở sinh lý của sự hình thành rễ bất định có ý nghĩa quan trọng trong việc nhân giống vô tính cay trồng.
( Bài viết trích từ cuốn ' sinh lý thực vật ứng dụng ' )

4.2 Sử dụng chất điều tiết sinh trưởng xúc tiến hình thành rễ bất định của cành chiết, cành giâm trong việc nhân giống vô tính
Trong nhiều năm qua, phòng thí nghiệm sinh lý thực vật trường đại học nông nghiệp I đã tập trung nghiên cứu cở sở sinh lý của sự tái sinh rễ ở cành giâm để xây dựng một quy trình nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành cho nhiều đối tượng cây trồng : cây ăn quả, cây công nghiệp, cây thuốc, cây cảnh... Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự tái sinh rễ bất định ở cành chiết, cành giâm là một quá trình sinh lý phức tạp liên quan chặt chẽ với điều kiện nội tại và điều kiện ngoại cảnh mà trong đó tác dụng kích thích của auxin là rất quan trọng. Vì hàm lượng auxin nội sinh trong cành chiết, cành giâm không đủ cho sự hình thành rễ nhanh chóng, nên con người phải xử lí auxin ngoại sinh cho cành giâm cành chiết để xúc tiến sự xuất hiện rễ.
Hiện nay, có hai phương pháp chính dể xử lí auxin cho cành chiết, cành giâm.
- Phương pháp xử lí nồng độ dặc hay phương pháp xử lí nhanh. Nồng độ auxin giao động từ 1000 - 10000 ppm. với cành giâm thì nhúng phần gốc vào dung dịch trong 3-5 giây, rồi cắm vào giá thể. với cành chiết thì sau khi khoanh vỏ, chúng ta tẩm bông bằng dung dịch auxin đặc rồi bôi lên chỗ khoanh vỏ, nơi xuất hiện rễ bất định. sau đó bầu bằng đất ẩm. phương pháp này có ưu điểm là hiệu quả cao vì gây nên "cái sốc sinh lý" cần cho giai đoạn đầu của sự xuất hiện rễ. ngoài ra, phương pháp này không đòi hỏi các thiết bị ngâm cành giâm và hoá chất tiêu tốn ít hơn.
- pương pháp nồng độ loãng - xử lí chậm. Nồng độ auxin sử dụng tuè 20 -200 ppm tuỳ thuộc vào loài và mức độ khó ra rễ của cành giâm. Đối với cành giâm , ngâm phần gốc của dung dịch auxin 10 -24 giờ, sau đó cắm vào giá thể. Với cành chiết thì trộn dung dịch vào đát bó bầu dể bó bầu cho cành chiết.
Các chất auxin được sử dụng là : IBA, anpha - NAA và 2,4D(IBA > NAA > 2,4D).
Trong nhiều năm, cấc nhà nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu các vấn đề :
+ Hiệu quả của hai phương pháp xử lí
+ Đặc điểm cành giâm, tuổi cành, vị trí cành giâm, số lá để lại, cây mẹ...
+ Các điều kiện ngoại cảnh : ánh sáng nhiệt độ giá thể...
Kết quả nghiên cứu đã cho phép các nhà nghiên cứu tạo nên được một chế phẩm giâm chiết cành có hiệu quả tốt cho sự ra rễ của cành chiết cành giâm và đã được sử dụng rộng rãi, đưọc đánh giá cao trong sản xuất.
Chế phẩm giâm chiết cành bao gồm hỗn hợp của auxin (BA< anpha - NAA) phối chế với một số chất khác như ãit nicotinic và vitamin.
Quy trình giâm cành cây ăn quả, cây cảnh, cây công nghiệp
1. Chọn cành giâm : cành bánh tẻ, lá không bị bệnh.
2. Cắt các đoạn cành giâm ( 10 -15 cm ) có ít nhất 1 lá. Nếu cành giâm có nhiều lá thì cắt bớt lá.
3. Nhúng phần gốc vào dung dịch ngâm chiết cành với thời gian 3 - 5 giây.
4. Cắm cành giâm vào giá thể - giá thể phải ấm, thoáng, tốt nhất là cát sạch.
5. nhà giâm cành phải che ánh sáng trực xạ, chỉ sử dụng ánh sáng tán xạ.
6. Phun ẩm thường xuyên bằng máy phun sương hoặc bình phun thuốc trừ sâu. Trong thời gian đầu phải đảm bảo thường xuyên lá không bị héo, lá luôn ướt.
7. khi xuất hiện rễ thì giảm phun nước vàg có thể cho vào bầu đất nilông. Giá thể tốt nhất là 1/2 phân chuồng mục và 1/2 đất màu. khi thấy rễ đâm ra sát túi nilông thì có thể trồng ra vườn ươm hoặc trực tiếp ra vườn.
Thời vụ giâm chiết cành tốt nhất là vào mùa xuân sang hè (tháng 3, 4, 5) và thời vụ thu (tháng 9 và 10). Nếu giâm chiết cành vào những tháng nóng nực của mùa hè và những tháng lạnh lẽo của mùa đông thì rất khó thành công.



26 Tháng Bảy, 2006, 08:38:08 AM
Reply #7
  • Team Olympeek
  • OLYMPIAN
  • **
  • Posts: 121
  • Điểm bài viết: 2
  • |..learning to fly...|
5. Sự hình thành hoa và vai trò của chất điều hoà sinh trưởng
5.1 Sự ra hoa và các nhân tố ảnh hưởng
Sự ra hoa là một bước ngoặt trong đời sống của thực vật tức là sự chuyển hướng từ giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng sang giai đoạn sinh trưởng sinh sản.
Sự chuyển hướng này thực chất là sự thay đổi đột ngột trong đỉnh sinh trưởng của thân, cành để có thể chuyển từ sự phân hoá mầm lá sang phân hoá mầm hoa.
Đối với sự ra hoa của cây thì giai đoạn khởi xướng, cảm ứng sự ra hoa là quan trọng nhất. Đây là quá trình phức tạp chịu ảnh hưởng của nhân tố nội tại ( quan trọng là phytohoocmon và phytocrom ) và các nhân tố ngoại cảnh ( chủ yếu là ánh sáng và nhiệt độ ). Ảnh hưởng của nhiệt độ đặc biệt là nhiệt độ thấp đến sự ra hoa người ta gọi là suẹ xuân hoá. Còn ảnh hưởng của độ dài ngày đến sự ra hoa người ta gọi là hiện tượng quang chu kì.
Dưới tác dụng của nhiệt độ thích hợp và quang chu kì cảm ứng, trong lá cây xuất hiện các chất đặc hiệu gây nên sự ra hoa gọi là hoocmon ra hoa.
Hoocmon ra hoa này sẽ được vận chuyển dến các mô phân sinh đầu cành để quy định sự hình thành các mầm hoa.
Vậy các hoocmon thực vật liên quan đến sự ra hoa như thế nào ?
- Gibberellin
GA là nhám phytohoocmon quan trọng nhất ảnh hưởng rõ rệt đến sự ra hoa của nhiều loài thực vật. Nhà sinh lý thực vật học người Nga - Chailakhyan đã đề xướng học thuyết hoocmon ra hoa đã tồn tại mấy chục năm nay. Theo quan điểm này thì sự ra hoa của thực vật được điều chỉnh bằng các hoocmon ra hoa. Hoocmon ra hoa bao gồm hai thành phần : Gibberellin và antesin. GA kích thích sự sinh trưởng và phát triển của ngồng hoa (trụ dưới hoa) còn antesin thì cần cho sự phát triển của hoa. Nếu thiếu một trong hai chất đó thì hoa không được hình thành. Xử lý GA có thể điều chỉnh sự ra hoa của các cây ngày dài và các cây cần xử lý lạnh như su hào, bắp cải, cà rốt... việc xử lý GA cho cây ngày dài có thể làm cho chúng ra hoa trong điều kiện ngày ngắn.
- Auxin
Vai trò của auxin với sự hình thành hoa không rõ. Auxin có thể kích thích sự ra hoa của một số cây, nhưng lại wúc chế sự ra hoa của một số loài cây khác. hiệu quả của chúng lên sự ra hoa là không đặc trưng.
- Chất ức chế
nguyên tắc chung là sự kích thích sinh trưởng của chồi ngọn thường kìm hãm sự ra hoa, nhưng nếu ức chế sự sinh trưởng của chồi ngọn thường ức chế sự ra hoa của cây.
Các ratardant như CCC, alar (SADH)... khi sử dụng với nhiều laọi cây trồng đã kích thích sự ra hoa của chúng.
như vậy có thể hình dung rằng sự ra hoa của cây được điều chỉnh bằng một sự cân bằng hoocmon nào đấy trong cây. Một trong những can bằng quan trọng là cân bằng giữa GA/ABA.trong thời kì sinh trưởng dinh dưỡng thì GA chiếm ưu thế và ABA ít được hình thành. tuy nhiên khi chuyển sang giai đoạn ra hoa, ABA hình thành mạnh vàmlúc hình thành hoa thì ABA đưọc tổng hợp mạnh trong hoa và quyết định giai đoạn sinh trưởng sinh sản - sự ra hoa và phát triển của các cấu trúc sinh sản


5.2 Điều chỉnh ra hoa trái vụ của dứa
dứa là cây trồng mà con người đã sự dụng hoá chất để kích thích sự ra hoa tạo quả thêm một vụ, tăng thu hoạch. Đây là một biện pháp kĩ thuật rất tinh tế của các nước và các vùng trồng dứa.
twù năm 1932, oqr puerto Rico người ta phát hiện ra rằng, trong khói có chứa các khí chưa bão hoà hoá trị như etilen và cả axetilen đã kích thích sự ra hoa của dứa. năm 1935, ở hawai người ta đã biết ứng dụng axetilen như là một sản phẩm thương mại để làm dứa ra hoa trái vụ . sau đó người ta phát hiện ra một số auxin cũng có ảnh hưởng tương tự.
Nhiều chất hoá học, trong đó phần lớn là các chất điều hoà sinh trưởng được sử dụng để kích thích dứa ra hoa trái vụ. Đơn giản nhất là người ta sử dụng đất đèn. Chỉ cần cho một hạt nhỏ (1 g) đất đèn vào nõn dứa và khi gặp ẩm, đất đèn sản sinh ra khí axetilen gây hiệu quả. Etilen được sử dụng dưới dạng ethrel. Khi phun lên cây, cháng thấm vào cây và phân giải cho ra etilen gây hiệu quả sinh lý. ethrel là chế phẩm có hiệu quả nhất được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trồng dứa hiện nay. Liều lượng ethrel xử lý cho dứa dao động từ 1,1 - 4,5 kg/ha. hiệu quả của nó có thể đạt 100% số cây ra hoa quả, chín sớm hơn 2 -3 tuần. Các chất auxin tổng hợp như anpha - NAA; 2,4D cũng được sử dụng ở một số vùng trồng dứa. Ở Hawai nhiều cánh đòng dứa được phun dung dịch muối natri của NAA ở nồng độ 25ppm. Ở Puerto Rico người ta phun 2,4D với nồng độ 5 - 10 ppm.
Việc xử lý bằng các chất điều hoà sinh trưởng cho dứa đã làm dứa ra hoa đồng loạt và thu hoạch đồng loạt, có thể xác định thời gian thu hoạch bằng thời gian sử lý hoá chất. Biện pháp này đã làm tămg sản lượng dứa đáng kể và có thể xem đây là một vụ dứa chính.
Nhiều tài liệu còn cho rằng ethrel kích thích sự ra hoa kết quả của xoài và một số cây cảnh vốn khó ra hoa kết quả.



5.3 Điều khiển sự ra hoa của các cây trồng
Có rất nhiều ứng dụng thành công chất điều hoà sinh trưởng để điều chỉnh sự ra hoa của cây ăn quả, cây rau, cây cảnh...
- Nhãn - vải : Ở hawai người ta phun anpha - NAA cho nhãn, vải để kích thích sự ra hoa rất có hiệu quả.
- Đào quả : Ở Mỹ, xử lí dung dịch SADH (Alar) nồng độ 2000 ppm đã làm ngừng sinh trưởng của chồi ngọn và tăng cường hình thành hoa.
- Táo tây : Với táo người ta sử dụng phổ biến các chất ức chế sinh trưởng. Ở Bắc Mỹ người ta sử dụng SADH nồng độ 500 - 2000 ppm đã tăng số lượng hoa rất nhiều. Ở Cânda sử dụng SADH với 500 - 2000 ppm cũng làm tăng sự ra hoa của táo tù 50 - 85% thuỳ theo giống.
- : Ở Mỹ đã sử dụng phổ biến SADH để kích thích sự ra hoa của lê. Nồng độ SADH là từ 1000 - 3000 ppm phun 2 lần, đã làm tăng số lượng hoa 2 - 3 lần so với không phun.
- Chanh : Ở Ixraen, chanh Eurica được phun CCC nồng độ 1000 ppm và SADH nồng độ 2500 ppm đã làm tăng số lượng hoa và năng suất quả gấp bội.
- Đu đủ : Hợp chất có hiệu quả nhất với sự ra hoa của đu đủ được sử dụng ở nhiều nơi trồng đu đủ, như ở Hawai đã làm tăng số lượng hoa và quả lên gấp bội bằng BOA (Benzothiazole - 2 -oxi axetic axit).
phun BOA cho đu đủ với nồng độ 30 - 50 ppm đã làm tăng sản lượng đu dủ lên 2 - 3 lần.
- Cây xà lách : Để sản suất hạt xà lách người ta phun GA nồng độ 3 - 10 ppm ở thời kì cây 4 - 8 lá để làm tăng sản lượng hạtvà thu hoạch sớm hơn 2 tuần so với không xử lí.
- Hoa trà : Sử dụng CCC cho cây trà thì chỉ cần một năm sau khi giâm cành, là có thẻ ra hoa. cây được xử lí thì ra hoa, còn cây không xử lí thì vẫn duy trì ở trạng thái dinh dưỡng.
- Cây phong lữ (Geranium) : Xử lí CCC nồng độ 5000 ppm vào 30 nhày sau khi gieo làm chiều cao thấp hơn 8 - 10 cm, phân cành tốt và ra hoa nhiều. Phun lên lá dung dịch SADH nồng độ 5000 ppm cũng làm tăng số lượng hoa và ức chế sinh trưởng chiều cao như xử lí CCC.
- Lay ơn : lay ơn là một trong rất ít cây mà chiều cao của cây được kích thích khi sử dụng CCC. Phun CCC nồng độ 8000 ppm 3 lần : lần thứ nhất xử lí ngay sau khi mọc, lần thứ hai cách 4 tuần, lân thứ ba chác 3 tuần sau lần thứ hai, tức là khoảng 25 ngày trước khi ra hoa. Kết quả là hoa tự được kéo dài, số lượng hoa trên một ngồng nhiều hơn.
- Cúc Nhật : Cúc Nhật thường mẫn cảm với quang chu kì và nhiệt độ thấp, nên ở Nhật người ta thường xử lí GA nồng độ 5 - 10 ppm vào đỉnh sinh trưởng để làm cho chóng ra hoa.
- Cẩm chướng : phun CCC ở nồng đôn 0,25% sẽ chống được hiện tượng cẩm chướng mọc vổng, ra nụ quá nhiều phải ngắt bỏ bằng tay tốn nhiều công lao động; chất lượng hoa tăng rõ rệt.



5.4 Điều khiển ra hoa của hoa loa kèn
Hoa loa kèn là một trong những loài hoa rất được ưa chuộng và là loại hoa xuất khẩu chính trong các năm trước đây. Củ loa kèn thường được trồng vào tháng 9, tháng 10 nhưng mãi đến tháng 4 năm sau mới thu hoạch. Thời gian chiếm đất khá dài. Hơn nữa đến tháng 4 nhiệt độ tăng, hoa nở ồ ạt do đó làm giá trị của hoa bị giảm nhiều. chính vì vậy trong nhiều năm qua, bộ môn sinh lý hoá sinh thực vật trường ĐHNN1 đã nghiên cứu thành công việc điều khiển hoa loa kèn ra hoa trái vụ theo ý muốn. Hiện nay trên thị trường Hà Nội đã có hoa loa kèn trong dịp lễ, tết dương lịch, nhất là từ tết âm lịch dến 8/3. Giá trị của bông hoa trái vụ này có thể tăng lên gấp nhiều lần so với hoa chính vụ. Để làm hoa xuất khẩu thì bện pháp xử lí hoa loa kèn trái vụ lại càng có giá trị hơn.
Việc rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây loa kèn là một quá trình phức tạp phải có tác động của hàng loạt biện phápđược tính toán rất hợp lí. Trong các tổ hợp biện pháp đó thì GA có ý nghĩa rất quan trọng. Việc ngâm củ loa kèn hoặc phun đẫm băng dung dịch GA nồng độ 10 ppm sau khi đã xử lí các biện pháp khác đã kích thích sự nảy mầm nhanh của củ loa kèn trong đất, rút ngắn thời kì ngủ nghỉ và làm chúng nhanh sing trưởng ra hoa sớm.
Biện pháp này đã mang lại hiệu quả kinh tế cho nhiều gia đình trồng hoa loa kèn.









26 Tháng Bảy, 2006, 08:42:32 AM
Reply #8
  • Team Olympeek
  • OLYMPIAN
  • **
  • Posts: 121
  • Điểm bài viết: 2
  • |..learning to fly...|


5.5 Điều khiển số lượng hoa đực, hoa cái theo ý muốn
Trong sự phân hoá giới tính (tính đực, tính cái) vai trò điều chỉnh của các phytohoocmon là rất quan trọng. Trong các cây đơn tính như các cây họ bầu bí (cucurbitaceae) chất diều tiết sinh trưởng sẽ điều hoà tỉ lệ hoa đực và hoa cái. Còn các cây lưỡng tính thì sự phấy triển của bao phấn, hạt phấn và tế bào trứng cũng chịu ảnh hưởng điều chỉnh của các phytohoocmon.
Mối quan hệ của các cơ quan trong quá trình hình thành giới tính đã được xác nhận qua nhiều thực nghiệm với các cây đơn tính. Nếu nuôi cây đơn tính tù cây con mà chỉ để lại lá, loại trừ rễ thì cây sẽ tạo nên 85 - 90% là cây đực. Còn ngưọc lại nếu rễ phát triển và loại bỏ lá thì đa phần là cây cái. Như vậy thì lá có khả năng biểu hiện tính đực, còn rễ cây biểu hiện tính cái. điều đó được giải thích là lá sinh ra giberelin còn rễ sẽ tổng hợp xytokinin. Trong điều kiện vừa có rễ vừa có lá tức là có sự cân bằng về giơíi tính. Nếu người ta tách phôi rồi nuôi cấy trong môi trường nhân tạo và trong môi trường chỉ bổ sung GA thì có 95 - 100% là hoa đực . Còn nếu chỉ có xytokinin thì 95 - 100% là hoa cái ; cùng với xytokinin , etylen cũng biểu thị tính cáivà auxin thể hiện dặc tính trung gian.
Với các cây họ Bầu bí như bí ngô, bí đao, mướp, dưa lê, dưa chuột, dưa hấu ... thì trên cây vừa tồn tại hoa đực và hoa cái. Để điều chỉnh tỉ lệ giữa hoa đực và hoa cái, người ta thường dùng hai chất : GA để tăng tỉ lệ hoa đực, và ethrel (sản sinh etylen) sẽ kích thích ra hoa cái.
Nồng độ GA là từ 5 - 50 ppm, còn nồng độ của ethrel từ 50 - 250 ppm. Giai đoạn xử lí hoá chất để điều chỉnh giới tính là giai đoạn cây con từ 1 -10 lá thật. phun ethrel với liều lượng 240 mg/l vào lúc cây có 1 - 5 lá làm tăng năng suất dưa chuột lên ba lần.
Các dẫn xuất của axit flatic có tác dụng rất đặc hiệu đến quá trình hình thành hoa cái ở dưa chuột. khi phun lên cây dung dịch muối dikali của axit flatic (ftalat kali) ở nồng độ 0,5% đã làm tăng số lượng hoa cái lên 3 - 4 lần.
Phản ứng này của ethrel lên nhiều giống bầu bí cũng tương tự như dưa chuột.
Trong việc sản xuất hạy lai F1 của các cây họ bầu bí, người ta thường dùng GA hoặc ethrel để điều chỉnh giới tính. Người ta trồng xen kẽ từng hàng giữa các cây mang hoa đực và các cây mang hoa cái (các cây xư lí GA và các cây xử lí ethrel). Hạt giống thu được do sự thụ phấn thụ tinh của các cây đực, cây cái khác nhau là hạt lai F1.

26 Tháng Bảy, 2006, 08:44:08 AM
Reply #9
  • Team Olympeek
  • OLYMPIAN
  • **
  • Posts: 121
  • Điểm bài viết: 2
  • |..learning to fly...|
5.6 Khắc phục sự ra hoa quả cách năm
Trong nghề trồng cây ăn quả, thường gặp hiện tượng ra quả cách năm, tức là xen kẽ năm được mùa và năm thất thu. Nguyên nhân chính là ở những năm thuận lợi, hoa ra quá nhiều làm kiệt cây dẫn đến sự giảm hoa hoặc không ra hoa năm sau. Đã có nhiều biện pháp kĩ thuật nông học được đề xuất để ngăn ngừa hiện tượng này, ví dụ như loại bớt hoa hoặc quả non bằng tay khi hoa quá dư thừa. Tuy nhiên mất rất nhiều công sức và khó thực hiện ở sản xuất lớn. Dùng các chất điều tiết sinh trưởng phù hợp có thể điều hoà quá trình này, như phun muối của axit anpha - naphtyl axetic hoặc anpha - naphtyl axetamit ở nồng độ 0,001 - 0,005% vào lúc hoa nở rộ hoặc sau đấy 1 - 2 tuần để làm rụng bớt hoa. Cơ chế tác dụng của các chất này là tăng cường sự tổng hợp etylen, chất đóng vai trò quan trọng trong sự rụng của quả. Người ta có thể dùng ethrel ở nồng độ 0,2 - 2 g/l phun lúc ra hoa hay 1 - 2 tuần sau khi rụng cánh hoa sẽ làm rụng bớt hoa thừa, quả sẽ to hơn. bằng biện pháp này táo ở năm sau có thể cho 37 kg quả/ cây, trong khi đó cây không xử lí chỉ cho 2 kg. ở Ôxtrâylia, khi phun cho cam Valenxia dung dịch giberelin nồng độ 25 mg/l vào lúc hoa nở rộ chỉ làm giảm ít số lượng quả năm đónhưng tăng mạnh sản lượng năm sau vốn là năm rất ít được thu hoạch. Sự chênh lệch năng suất giữa hai năm giảm từ 10 xuống 2 lần. Tổng sản lượng của hai năm vẫn tăng lên 10% so với không xử lí.
Để thúc đẩy cây sớm cho quả, đặc biệt ở cây thân gỗ, người ta thường phun các chất kìm hãm sự sinh trưởng như alar hoặc CCC. Các chất này làm cây sớm chấm dứt thời kì "non trẻ", bước vào giai đoạn ra hoa. Ở các vườn táo, ngay từ năm đầu đã phun dung dịch alar với nồng độ 0,15 - 0,25% thì năm sau sẽ cho hoa rất rộ.
Nếu phun dung dịch alar hoặc CCC sau khi đã tắt hoa với nồng độ 0,2 - 0,5% thì sẽ kìm hãm sự vươn dài của chồi đọt và kích thích sự tiếp tục phân hoá mầm hoa, năm tới cây tiếp tục ra hoa mạnh hơn.


26 Tháng Bảy, 2006, 08:45:14 AM
Reply #10
  • Team Olympeek
  • OLYMPIAN
  • **
  • Posts: 121
  • Điểm bài viết: 2
  • |..learning to fly...|
6. Sự hình thành quả và tạo quả không hạt
6.1 Sự thụ phấn, sự thụ tinh
Sự thụ phấn và sự thụ tinh là tiền đề của sự hình thành quả và hạt.
Sự thụ phấn là quá trình hạt phấn rơi lên núm nhuỵ. Hạt phấn nảy mầm trên núm nhuỵ. Sự nảy mầm của hạt phấn là do sự kích thích của các phytohoocmon của chính hạt phấn. Hạt phấn là nguồn giàu có chất kích thích , đặc biệt là auxin. Ngoài ra dịch của núm nhuỵtiết ra cũng chứa các chất kích thích sinh trưởng và các chất dinh trưởng, góp phần kích thích sự nảy mầm của hạt phấn. Tuy nhiên, hạt phấn chỉ nảy mầm trên núm nhuỵ của cây cùng loài, còn khi rơi lên nhuỵ của cây khác loài thì hạt phấn không nảy mầm. Sở dĩ như vậy là tồn tại một cơ chế ức chế sự nảy mẩm của hạt phấn lầm có lẽ đó là các chất ức chế đặc biệt sinh sanra ở núm nhuỵ và và có nhiệm vụ ức chế sự nảy mầm của hạt phấn khácloài gây nên hiện tượng bất thụ.
Sau khi hạt phấn nảy mầm thì ống phấn được hình thành và siwnh trưởng ngày càng dài ra cho đến tận noãn. sự sinh trưởng của ống phấn được kích thích bởi auxin trong hạt phấn và các chất kích thích và dinh dưỡng từ núm nhuỵ. khi ống kéo dài đến tế bào noãn thì xãy ra quá trình thụ tinh kép : Một tinh tử kết hợp với tế bào trứng tạo nên hợp tử lưỡng bội, một tinh tử khác kết hợp với tế bào nội nhũ 2n để tạo ra nội nhũ 3n. Hợp tử sẽ phát triển thành phôi, còn nội nhũ cùng với phôi sẽ cấu thành hạt.
Sự thụ phấn và thụ tinh chịu ảnh hưởng lớn bởi nhiệt độ và độ ẩm không khí . Nếu gặp nhiệt độ không thích hợp, độ ẩm quá thấp thì hạt sẽ không nảy mầm, và ống phấn không được hình thành. Chính vì vậy thời vụ trồng cây là cức kì quan trọng quyết định sự thụ phấn, thụ tinh và tạo quả hạt sau này. Sự nở hoa , tung phấn nhất thiết phải rơi vào thời kì thuận lợi nhất có nhiệt độ và độ ẩm thích hợp.

6.2 Sự hình thành quả và quả không hạt
Sau quá trình thụ phấn, thụ tinh thì quả bắt đầu được hình thành và sinh trưởng nhanh chóng. Sự lớn lên của quả là do sự phân chia tế bào đặc biệt là do sự dãn nhanh của tế bào trong bầu. Sự tăng trưởng kích thước, thể tích của quả một cách nhanh chóng là đặc trưng swụ sinh trưởng của quả. Ví dụ một quả tấo tây có thể tăng thể tích 6000 lần trong 20 tuần lễ sinh trưởng. Sự sinh trưởng nhanh chóng như vậy là do được điều chỉnh bằng phytohoocmon xuất hiện trong phôi hạt.
- Auxin và sự sinh trưởng của quả
Sự tăng trưởngkích thước của quả gây ra do sự dãn của các tế bào mà trong đó auxin đóng vai trò điều chỉnh. Nguồn auxin này sản sinh trong hạt.
Người ta xác định có một mối tương quan chặt chẽ giữa sự phát triển của hạt và sự sinh trưởng của quả. Kích thước và hình dáng của quả phụ thuộc chặt chẽ với số lượng hạtvà sự phân bố cảu hạt trong quả. Nếu hàm lượng auxin sản sinh ra từ hạt nhiều thì qảu sinh trưởng nhanh kích thước lớn và ngược lại. Sự vận chuyển của hoocmon này dến các vùng khác nhau của quả cũng quyết định đến hình dạng của quả. Nếu sự vận chuyển và phân bố đều ở mọi hướng thì quả lớn bình thường, mẫu hình quả đặc trưng cho giống, nhưng nếu sự phân bố đó không đều thì sẽ gây ra sự sinh trưởng nhanh chậm khác nhau ở các vùng làm cho quả có hình dạng thay đổi.
- gibberelin và sự sinh trưởng của quả
Gibberelin cũng được sản sinh ra trong hạt và góp phần diều chỉnh sự sinh trưởng của quả, kích thước và hình dáng của quả như auxin.
Vì vậy việc sử dụng GA có thể làm tăng kích thước của quả như sử dụng auxin.

- Xytokinin và sự sinh trưởng của quả
Trong quả non mới hình thành có chứa nhiều xytokinin. Xytokinin kích thích sự phân chia tế bào. Vì vậy trong giai đoạn sinh trưởng đầu của quả xytokinin có vai trò rất quan trọng. Việc sử dụng xytokinin cũng có thể làm tăng kích thước của quả như auxin và GA.
- Etylen và sinh trưởng của quả
Etylen cũng được sản sinh nhiều trong quả vào giai đoạn quả trưởng thành và chín. Tác dụng của etylen đối kháng với auxin và các chất kích thích sinh trưởng, nó kìm hãm sự sinh trưởng của quả và xuc tiến sự chín của quả.
Như vậy rõ ràng kích thước và hình đáng của quả được quyết định bơỉi nguồn phytohoocmon nội sinh được sản sinh trong phôi hạt. Hạt có được là do quá trình thụ phấn thụ tinh xãy ra.
Nếu chúng thay thế nguồn phtohoocmon nội sinh từ phôi bằng nguồn bổ sung từ ngaòi thì quả vẫn được hình thành, vẫn sinh trưởng bình thường mà không cần thụ tinh. Trong trường hoẹp này quả sẽ không có hạt.
Các chất auxin thường có hiệu quả cao trong việc tạo quả không hạt đối với các loại quả có nhiều noãn như dâu tây, cà chua, thuốc lá, bầu bí... và không có hiệu quả với các loại quả hạch như lê, táo, đào, mận... có khoảng 20% cây ăn quả phản ứng với auxin.
Có nhiều loại quả vừa phản ứng với auxin vừa phản ứng với gibberelin. Tuy nhiên GA có hiệu quả khi tạo quả không hạt với các cây mà auxin không gây hiệu quả. Via dụ với táo, chanh, cam nho....


Người ta phun các hợp chất auxin như anph-NAA, 2,4 D... và gibberelin cho hoa nở thì có thể loại bỏ được sự thụ tinh mà quả vẫn lớn được. nồng độ sử dụng phụ thuộc vào các chất khác nhau và các loài khác nhau. Chẳng hạn, với 2,4 D nồng độ sử dụng 5 - 10 ppm, với anpha-NAA nồng độ 10 - 20 ppm và với GA nồng độ sử dụng 10 - 100 ppm...
Việc xử lí tạo quả không hạt có ý nghĩa quan trọng trong việc làm tăng phẩm chất của quả đặc biệt là các loại quả thịt.
Các biến đổi trên xãy ra nhanh hay chậm phụ thuộc vào loại quả và điều kiện chín.
Biến đổi sinh lí đặc trưng nhất trong quá trình chín là sự tăng hô hấp của quả nhanh chóng có tính chất bột phát. Sự hô hấp bột phát càng mạnh thì quả chín càng nhanh.
Sự chín của quả được điều chỉnh bởi sự cân bằng của phytohoocmon auxin /etylen. hàm lượng auxin cao thì quả chưa chín ; còn khi hàm lượng etylen cao trong quả thì sự chín được kích thích. Etylen là hoocmon của sự chín. Nó cảm ứng hình thành và giải phóng các enzim cần thiết cho những biến đổi sinh hoá đặc trưng cho sự chín.
Trong quá trình chín của quả, sự tổng hợp etylen tăng lên rất mạnh mẽ. Mức độ tổng hợp etylen phụ thuộc vào tính chất của từng loại quả, liên quan đến tốc độ chín của chúng. Với các laọi quả chín nhanh như chuối , xoài, mít... thì hàm lượng etylen trong chúng cao hơn nhiều so với các loại quả có tốc độ chín chậm hơn như cam, chanh, bưởi, mận...

6.3 Kích thích sự chín của quả
Việc thu hái quả chiếm tới 60% chi phí lao động trong nghề trồng quả. Ở nhiều nước khâu này được cơ giới hoá nhưng đòi hỏi phải có biện pháp điều khiển quả chính đồng loạt và dễ rụng. Mặt khác, nhiều loại quả ( chuối, cà chua, lê...) phải thu hoạch lúc còn xanh để giữ được lâu và dễ vận chuyển, vì thế việc điều chỉnh quả chín đồng loạt có mã đẹp là điều rất cần thiết. Chất đuywợc sử dụng phổ biến nhất hiện nay trên thế giới để điều chỉnh sự chín của quả là ethrel (etherphon). Chất này dưới dạng dung dịch và khi xâm nhập vào quả, nó bị thuỷ phân giải phóng ra etylen. trong thực tế, khi dấm quả người ta thường sử dụng đất đèn, hương thắp hoặc một số lá cây. Các nguyên liệu này sẽ sản sinh cho các chất khí có bản chất gần giống etylen và hoạt tính tương tự etylen như ãetylen chẳng hạn.
- Kích thích sự chín của nho
Nhiều nước trồng nho ở vùng Địa Trung Hải, Mỹ, Ỗtrâylia,... đã sử dụng ethrel để kích thích sự chín của nho. Nồng độ sử dụng 500 ppm phun cho quả khi bắt đầu chín có thể làm chín đồng loạt sớm hơn 6 ngày. Ethrel còn tăng cường tổng hợp antoxyanin làm mã quả đẹp hơn và tăng hàm lượng đường.
- kích thích sự chín của cvà chua
Để xúc tiến sự chín nhanh và đồng loạt, thuận lợi cho thu hoạch cơ giới hoá, nhiều nước trồng cà chua đã sử dụng hoá chất phun trước khi chín.
Người ta sử dụng ethrel nồng độ 500 - 5000 ppm phun cho ruộng cà chua hai tuần trước khi thu hoạch làm quả chín, thu hoạch sớm mà không ảnh hưởng đếna chất lượng quả.
Có thể sử dụng SADH nồng độ 2500 - 5000 ppm cũng làm quả chín đồng loạt, thu hoạch sớm hơn. Quả thu hoạch về muốn điều khiển chín đồng loạt và đẹp mã có thể phun hay nhúng quả vào dung dịch ethrel trong thời gian 0,5 - 3 phút. Với chuối thường dùng dung dịch có nồng độ 0,5 - 2 g/l, lê 0,25 - 1 g/l, cà chua 1 - 4 g/l. Có thể nhúng cam quýt mới thu hoạch về vào dung dịch ethrel nồng độ 1g/l từ 3 - 10 phút, sau 7 - 10 ngày để nơi ấm trên 250C quả sẽ chín vàng, màu sắc rất đẹp.
- Kích thích sự chín của quả hồ tiêu
Để xúc tiến sự chín nhanh của quả hồ tiêu, người ta phun ethrel vào giai đoạn quả bắt đầu chín. Nồng độ sử dụng là từ 100 - 500 ppm. Trong vòng 8 ngày từ khi phun quả sẽ chuyển thành màu đỏ.
- Kích thích sự chín của quả cà phê
Ở Kenya, người ta phun dung dịch ethrel với nồng độ 700 - 1400 ppm cho quả xanh làm chín sớm hơn 2 đến 4 tuần so với không xử lí.
- Kích thích sự chín của quả đào, anh đào
Với hai loại quả này, người ta thường sử dụng SADH với nồng độ từ 1000 - 5000 ppm đều xúc tiến nhanh sự chín của chúng.


26 Tháng Bảy, 2006, 08:47:02 AM
Reply #11
  • Team Olympeek
  • OLYMPIAN
  • **
  • Posts: 121
  • Điểm bài viết: 2
  • |..learning to fly...|
7. Sự già hoá của cây
7.1 Sự già hoá và sự điều chỉnh hoocmon
Mỗi một cơ quan có quá trình già hoá riêng và dẫn đến sự chết của cơ quan. Còn đỉnh cao của sự già hoá toàn cây là cái chết tuẹ nhiên của cây.
Sự già hoá của lá được đặc trưng bằng sự giảm sút hàm lượng diệp lục, protein, axit nucleic do tăng cường độ các quá trình phân giải và ngừng các quá trình tổn hợp. cường độ quang hợp và hô hấp cũng giảm sút nhanh chóng.
Trên cây nguyên vẹn, quá trình già hoá cũng xãy ra liên tục mặc dù chúng mang trên mình các mô phân sinh vốn không có quá trình già hoá. Nhân tố gì đã gây nên sự già hoá của toàn cây dẫn đến cái chết?
Chúng ta quan sát một cánh đồng lúa đang xanh tươi đầy sức sống, nhưng chỉ trong thời gian ngắn toàn cánh đồng hoá vàng và chết cùng với sự hình thành và sự chín của hạt. Rừng tre xanh tươi hàng chục năm bỗng dưng cả rừng bị chết khô sau khi hình thành hoa và quả. Vậy phải chăng sự hình thành cơ quan sinh sản, cơ quan dự trữ là nguyên nhân gây nên sự già hoá?
Thực ra sự già hoá đó là một quá trình liên tục, những cơ quan sinh sản và dự trữ là trung tâm của sự già hoá, chúng phát sinh các ảnh hưởng già hoá lên cơ quan và toàn cây. Bằng chứng là các cây một năm , 2 năm có thể biến thành nhiều năm nếu làm cho chúng mất kjhả năng hình thành hoa. Chẳng hạn khi các cây đó gặp quang chu kì không thuận lợi thì không ra hoa và tồn tại ở trạng thái dinh dưỡng như vậy nhiều năm.
Chính phytohoocmon đã điều chỉnh sự già hoá của cây.
- Xytokinin là hoocmon thực vật quan trọng điều chỉnh quá trình già hoá. nó tăng cường sự hình thành chồi, kéo dài tuổi thọ của cơ quan và của cây vì nó kịhs thích sự tổng hợp diệp lục, axit nucleic và protein. Khi xử lí xytokinin cho cơ quan và toàn cây sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng của chúng, làm chậm sự ra hoa. Hệ rễ là cơ quan tổng hợp xytokinin. Nếu rễ của cây phát triển mạnh thì cây sinh trưởng tốt, tốc độ già hoá chậm lại.
- Axit abxixic(ABA): được xem là hoocmon già hoá. Noa được sản sinh nhiều trong cơ quan sinh sản và cơ quan dự trữ và từ đây gây ảnh hưởng ức chế lên cây. Vì vậy có thể xem cơ quan sinh sản là và cơ quan dự trữ là trung tâm già hoá của cây. Ngoài ra, ethrelcùgx góp phần xúc tiến sự già hoá của cây.
Như vậy, thì sự già hoá của cơ quan và của toàn cây được kiểm tra bằng sự cân bằng giữa xytokinin/axit abxixic.



26 Tháng Bảy, 2006, 08:50:44 AM
Reply #12
  • Team Olympeek
  • OLYMPIAN
  • **
  • Posts: 121
  • Điểm bài viết: 2
  • |..learning to fly...|
7.2 Điều khiển sự già hóa bằng kỹ thuật trồng trọt
Phân bón và nước là hai yếu tố quan trọng quyết định tốc độ già hoá của cơ quan và của cây. Phân đạm và nước sẽ làm cây sinh trưởng mạnh, đâm chồi nảy lộc nhiều và kéo dài thời gian sinh trưởng, ra hoa kết quả chậm lại. Hạn và bón vôi sẽ làm cây chóng già, ra hoa kết quả sớm vì rút ngắn thời gian sinh trưởng.
Để điều khiển sự ra hoa của cây hoa, cây cảnh người ta thường tác động đến bộ rễ vì rễ là cơ quan tổng hợp xytokinin - hoocmon hoá trẻ. Kỹ thuật đảo quất rất quen thuộc đối với các nhà làm vườn trồng quất cảnh. Muốn ra hoa kết quả đồng loạt và dúng vào dịp tết nguyên đán, người ta tiến hành đảo chúng, quật lên khỏi mặt đất nhằm mục đích là hạn chế sự sinh trưởng của rễ - tức là hạn chế nguồn dinh dưỡng từ đất và đặc biệt là hạn chế nguồn xytokinin được tổng hợp trong rễ. Thiếu xytokinin, các chồi ngừng sinh trưởng và chuyển sang phân hoá hoa.
Để cho cây chóng ra hoa, người ta thường xiên vào rễ hoặc cắt bớt rễ cũng nhằm mục đích như vậy.

7.3 Làm chậm sự già hoá của rau
Các loại rau xanh sau khi thu hoạch rất nhanh bị hỏng, giảm phẩm chất. Hàm lượng diệp lục và protein bị giảm nhanh. xytokinin và các retardant sinh trưởng sẽ kìm hãm sự già hoá của sau trong hki bảo quản.
- Bắp cải: Người ta phun benzyl adenin (BA) nồng độ 20 - 40 ppm ngay sau khi thu hoạch thì có thể giữ được màu xanh ( hàm lượng diệp lục ) lâu hơn bắp cải không xử lí. Thời gian bảo quản này có thể kéo dài vài ngày, thậm chí 2 -3 tuần.
- Xà lách: Lá xà lách bị úa vàng rất nhanh sau khi thu hoạch. Phun BA nồng độ 2,5 - 10 ppm có thể giữ lá xà lách tươi và xanh trong 3 -5 ngày.
Có thể sử dụng CCC và SADH ở nồng độ 10 - 50 ppm cũng có hiệu quả kéo dài thời gian bảo quản xà lách 5 - 10 ngày.
- Xúp lơ: Với xúp lơ sau khi thu hoạch việc hoá vàng và rụng các lá làm giảm phẩm chất. Ở Mỹ người ta sử dụng phối hợp dung dịch 10 ppm BA và 50 ppm 2,4D và bảo quản ở 9độ
C thì sau 28 ngày xúp lơ còn giữ nguyên màu xanh.
- Cần tây: Người ta phun BA nồng độ 10 ppm có thể bảo quản được 22 ngày. Còn nếu xử lí BA bảo quản ở 40
C
thì thời gian kéo dài đến 40 ngày.



26 Tháng Bảy, 2006, 08:52:54 AM
Reply #13
  • Team Olympeek
  • OLYMPIAN
  • **
  • Posts: 121
  • Điểm bài viết: 2
  • |..learning to fly...|
7.4 kìm hãm sự già hoá của quả
Sự chín của quả cũng biểu hiện quá trình hoá già của quả. Việc kéo dài thời kì chín của quả tức kìm hãm sự già hoá của chúng có ý nghĩa quan trọng trong bảo quản quả tươi cũng như thuận lợi cho thời vụ thu hoạch quả. Chất điều hoà sinh trưởng là phương tiện kéo dài sự chín của quả.
- Cam Navel: Khi cam Navel chín thì vỏ quả từ màu xanh chuyển sang màu vàng sau đó vỏ quả mềm và nhũn ra.Để kìm hãm sự chín, kéo dài thời kì quả xanh, ở Califocnia người ta phun Ga nồng độ 10 ppm lên lá và quả trên cây - như ở Califocnia cam được thu hoạch vào giũa tháng ba thì người ta phun Ga vào tháng 10, tháng 11.
- Chanh : phun GA nồng độ 40 ppm cho quả trên cây có thể kéo dài thời gian tồn tại của quả trên cây một tháng so đối chứng. Với cam, chanh, ngoài xử lí GA người ta có thể nhúng ướt quả bằng dung dịch nước hay sáp có 2,4D nồng độ 0,002% là biện phpá bảo quản rất tốt.
- Hồng quả : Đặc trưng của hồng quả là chín rất nhanh, vì vậy việc kìm hãm tốc độ chín của hồng quả có ý nghĩa lớn. Để làm được việc đó người ta phun dung dịch GA nồng độ 50 - 200 ppm lên quả trên cây khi quả bắt đầu chín thì có thể kéo dài thời gian chín của quả 3 - 4 tuần sau khi phun so với đối chứng không phun.

7.5 Kéo dài đời sống của hoa cắt
Hoa sau khi cắt khỏi cây sẽ rất chóng tàn. Tốc độ hoá già tuỳ thuộc vào từng loại hoa cắt. Việc ngăn chặn sự hoá già, kéo dài thời gian tồn tại của hoa cắt là một yêu cầu thực tiễn quan trọng.
- Với hoa mõm chó người ta sử dụng MH và các dẫn xuất của nólà có hiệu quả nhất. Chẳng hạn cupferron là dẫn xuất của MH ở nồng độ 200 ppm có thể kéo dài thời gian cắm hoa này lên 10 ngày so với đối chứng không xử lí la 4,7 ngày.
Có thể sử dụng SADH 10 - 50 ppm kết hợp với 1,5% đường saccaroz đã kéo dài thời gian cắm lọ lên 2 - 3 lần, chất lượng hoa được cải thiện.
- Nhiều hoá chất được thử nghiệm với hoa cẩm chướng với mục đích kéo dài đời sống của hoa sao khi cắt. Công thức tối ưu là phối hợp giữa SADH 500 ppm, QC (hydroxyquiniolin xitrat) 300 - 500 ppm kết hwọp với dung dịch 3 - 5% đường saccaroz. Cắm hoa trong dung dịch này đường kính hoa tăng 2,5 lần, thời gian hpoa tồn tại trong lọ là 16,8 ngày so với đối chứng (trong nước) là 6,8 ngày. Vai trò của các thành phần trong hỗn hợp đó có thể QC chống sự tắc mạch dẫn, SADH ngăn chặn hô hấp bột phát và làm thông dòng nước lên hoa, đường cung cấp dinh dưỡng.
Để giữ lâu hoa cắt còn có thể sử dụng dung dịch : "nora" có thành phần: 0.07% SADH (alar), 0,04% oxysunfatquinolin và đươpngf saccaroz 5%. Cắm hoa vừa cắt trước hết vào dung dịch "nora". Tuổi thọ của hoa có thể kéo dài tới 40 ngày ( hoa cẩm chướng, hoa cúc...).



26 Tháng Bảy, 2006, 08:55:58 AM
Reply #14
  • Team Olympeek
  • OLYMPIAN
  • **
  • Posts: 121
  • Điểm bài viết: 2
  • |..learning to fly...|
8. sự rụng lá - quả
8.1 sự rụng lá - quả và sự điều chỉnh hoocmon
sự rụng là sự phân tách một bộ phận của cây như lá, hoa, quả, cành... khỏi cơ thể mẹ. ví dụ sự rụng lá về mùa đông, sự rụng quả, quả non...
- Sự rụng lá của một quá trình sinh lí phức tạp gắn liền với sự hoá già của lá. Sự rụng lá của cây gỗ thường xảy ra vào mùa thu trước khi vào mùa đông nhưng sang xuân hè thì bộ lá mới được tạo nên có sức sống và hoạt động sinh lí mạnh mẽ hơn.Một số cây xanh thì sự rụng lá thường xuyên xảy ra quanh năm, khi mà lá đã già không đảm nhận được chức năng quan trọng của nó, cần phải thay thế lá mới. Lá là cơ quan quan trọng, dảm nhận chức năng quang hợp và thoát hơi nước. Khi đã già thì giảm sức sống, giảm khả năng hoạt động quang hợp và tích luỹ, cần phải thay thế lá mới. Vì vậy sự rụng của lá là một phản ứng thích nghi của cây.
- Sự rụng của quả cũng thường xảy ra và làm giảm năng suất. Khi cây thiếu dinh dưỡng , nước và hoocmon sinh trưởng thì buộc phải bỏ đi một lượng quả nhất định để tập trung dinh dưỡng và các yếu tố cần thiết cho lượng quả còn lại trên cây. Sự rụng của quả thường xảy ra mạnh mẽ nhất lúc phôi hạt sinh trưởng nhanh và lúc quả phình to.
- Sự rụng lá và quả được thức hiện nhờ sự hình thành tầng rời ở gốc cuống lá và quả. Tầng rời gồm một số tế bào nhu mô đặc biệt có đặc trưng là tế bào bé hơn, tròn, chất nguyên sinh đặc hơn, gian bào bé, không hoá suberin và lignin và hệ thống dẫn qua vu7ngf này rất mỏng manh. Các cấu trúc trên làm cho vùng này yếu hơn các vùng tế bào khác. Khi có những điều kiện cảm ứng sự rụng thì tầng rời xuất hiện nhanh chóng. Các biến đổi xảy ra trong vùng tế bào này cũng rất mạnh đặc biệt là enzim pectinaza phân huỷ thành tế bào làm các tế bào rời rạc, không dính nhau và lá chỉ còn giữ lại được bằng bó mạch mỏng manh.Dưới tác dụng của khối lượng lá, quả, tác động cơ giới làm lá, quả rụng dễ dàng.
- Sự điều chỉnh hoocmom, sự rụng
Auxin: auxin là phytohoocmon quan trọng điều chỉnh sự rụng mà vai trò của nó là kìm hãm sự rụng. Trong quả auxin được tổng hợp trong hạt còn trong lá thì auxin được vận chuyển từ chồi và lá non đến. Có một sự tương tác rất chặt chẽ giữa hàm lượng auxin trong quả và lá voéi sự rụng của chúng. Khi hàm lượng auxin trong lá hoặc trong quả giảm xuống thì tầng rời xuất hiện. Các lá già và các quả trưởng thành, khả năng tổng hợp auxin càng giảm sút và do đó tầng rời càng dễ hình thành. Trong trường hợp các quả non, nếu số lượng quả quá nhiều, lượng auxin trong chúng không đủ để duy trì sự sinh trưởng bình thường của quả và do đó nbếu gặp điều kiện bất lợi như thiếu nước, thiếu chất dinh dưỡng ... thì tầng rời cũng dễ xuất hiện. Tuy nhiên, sự hình thành tầng rời còn được điều chỉnh bằng sự cân bằng auxin và chất đối kháng với nó ở trong cây là axit abxixic(ABA) và etylen.
Axit abxixic và etylen: vHai hoocmon này có tác dụng đối kháng với auxin trong sự rụng của lá và quả. Trong cấc điều kiện bất lợi như nhiệt độ quá cao, quá thấp, hạn hán, thiếu dinh dưỡng, sâu bệnh thì hàm lượng ABA và etylen tăng lên nhanh chóng, do đó sự rụng của chúng được xảy ra. ABA và etylen kích thích sự tạo nên các enzim phân huỷ thành tế bào của tầng rời, làm tầng rời nhanh chóng xuất hiện. Trong quả quả già và lá già tích luỹ khá nhiều etylen và ABA.
Nhưvậy sự rụng là do cân bằng của auxin và ABA và etylen. Trong quả non, lá non , sự cân bằng này nghiêng về phía auxin và kìm hãm sự hình thành tầng rời. Còn trong các quả già ,lá già thì cân bằng này nghiêng về ABA và etylen và tầng rời được cảm ứng.
Các quả non , lá non nếu gặp điều kiện bất lợi như hạn , thiếu dinmh dưỡng, xâu bệnh... thì ABA và etylen được tổng hợp rất mạnh và do đó tầng rời cũng được hình thành. Chính vì vậy , muốn kìm hãm hoặc xúc tiến sự rụng của lá , quả thì cần được điều chỉnh sự cân bằng giũa auxin / ABA và etylen.